Thiết kế in ấn giá rẻ, in offset giá rẻ nhất tp hcm

Share Button

Vai trò của đồ họa và màu sắc trong thiết kế quảng cáo

Cùng đó là các sản phẩm ngoại nhập với mãu mã phong phú cũng đang hiển hiện ngày càng nhiều trên thị trường Việt Nam. Một tất yếu sẽ xảy ra là hàng hoá nào với hình thức mẫu mã đẹp, chất lượng tốt sẽ chiếm được yêu thích từ phía người tiêu dùng. Muốn xây dựng được những biểu tượng hàng hoá có uy tín trên thị trường thì việc quảng cáo là một giải pháp tối ưu trong chiến lược của các nhà quản lý kinh doanh. Nhiệm vụ đặt ra cho các hoạ sỹ thiết kế đồ hoạ là vô cùng to lớn. Làm thế nào để thông tin từ nhà sản xuất đến với người tiêu dùng một cách nhanh nhất, chính xác nhất và ấn tượng nhất. Một loạt câu hỏi được đặt ra, một loạt phương án được thực thi nhưng có lẽ đơn giản nhất và cũng là phức tạp nhất đó là màu sắc bởi màu sắc có sức thu hút rất lớn, con mắt chúng ta thường nhạy cảm với màu sắc hơn là với hình khối.

Các hiện tượng màu sắc thường có tác động mạnh đến tâm lý và cảm xúc của con người. Màu sắc là phương tiện hữu hiệu nhất giúp quảng cáo tiếp cận một cách nhanh nhất tới mục tiêu quảng cáo đó là con người. Màu sắc là một yếu tố quan trọng trong công việc cũng như là thành công trong phần thiêt kế quảng cáo của người hoạ sỹ. Vì vậy hiệu quả và vai trò của màu sắc trong thiết kế Đồ hoạ quảng cáo là vô cùng to lớn. Những nguyên lý cơ bản về màu sắc Màu tồn tại bởi ba yếu tố: ánh sáng, đối tượng quan sát và chủ thể quan sát. Các nhà vật lý đã chứng minh rằng ánh sáng trắng được hợp thành từ các bước sóng của các màu đỏ, lục và xanh.
Mắt người cảm nhận được màu khi các bước sóng này được đối tượng quan sát hấp thụ và phản xạ. Ba màu đỏ, lục và xanh là những màu nguyên thuỷ của ánh sáng. Khi ba màu này chồng lên nhau chúng tạo ra các màu thứ cấp: Cyan, Magenta và Yellow. Các màu nguyên thuỷ và màu thứ cấp là những thành phần màu bổ xung cho nhau. Những màu tương hợp là những màu hầu như không giống màu nào cả. Từ các màu nguyên thuỷ và các màu phát triển từ chúng là màu hữu sắc. Màu đen, trắng, xám là màu vô sắc.

Theo cảm giác về mặt tâm lý, màu đỏ, vàng, cam được liên tưởng tới mặt trời cho nên những màu đó và các sắc cùng tông được coi là màu nóng. Màu xanh, lục, tím liên tưởng tới bầu trời, mặt nước nên những màu đó và các sắc cùng tông được coi là lạnh. Những màu ở giữa nóng và lạnh là màu trung tính. Chính từ những thói quen tâm lý trên mà con người đưa ra những quan niệm về màu sắc hay nói cách khác đó chính là ngôn ngữ màu sắc. Màu sắc tự thân có khả năng gây cảm giác xa gần.

Thực tế cho thấy những màu nóng như đỏ, cam, vàng và các sắc điệu của chúng thường cho cảm giác đến gần mắt nhìn, những màu lạnh cho cảm giác lùi xa chạy về phía sau. Màu sáng đặt trên nền tối, màu rực rỡ đặt trên nền trầm đều làm tăng sự tương phản về khoảng cách xa gần. Màu sáng, màu nóng đặt trên nền tối, nền lạnh thường cho cảm giác lớn hơn diện tích thực của nó. Do đó gây cảm giác chiếm chỗ trong không gian nhiều hơn so với các màu sắc khác. Sự tương phản, ảnh hưởng của các màu được thể hiện rõ khi hai màu đặt cạnh nhau hoặc bao quanh nhau.
Mỗi màu đều có sự biến đổi bởi màu này tác động lên màu kia. Tính chất của màu sắc và hình khối có một mối quan hệ tương hỗ nhất định. Màu sắc có khả năng hoàn thiện khối. Nó tạo cho hình khối sự đa dạng về biểu chất, làm phong phú bề mặt của khối. Khi cần thiết nó có thể sử dụng nhiều quan hệ màu trên một bề mặt làm gia tăng hoặc giảm nhẹ sự chú ý của thị giác đối với tong bộ phận của hình khối. Khi hình khối bị phân thành nhiều nhóm, thành phần thì có thể dùng màu hợp nhất chúng lại thành hình khối có sự thống nhất và khái quát. Cùng trên một diện tích, hoặc một thể tích màu sáng có vẻ lớn hơn các màu tối. Màu vàng, lam nhạt gây cảm giác rộng hơn các màu khác. Tính chất nóng, lạnh của màu làm tăng tính động hoặc tĩnh. Làm nổi bật sự phát triển hoặc sự yên tĩnh của hình khối. Các hình khối động, hình khối phát triển khi mang màu đỏ, cam vàng, hoặc màu phát quang thì gây cảm giác va đập thị giác mạnh. Ngược lại những màu lạnh hoặc trầm lại có khả năng nhấn mạnh những hình khối có tính ổn định, lan toả, vững chãi. Tính chất này của màu sắc rất hữu ích trong việc thiết kế quảng cáo, gây sự tập trung chú ý của khách hàng.

Sắc màu là phương tiện hữu hiệu nhất để diễn tả đặc trưng của thế giới quan. Những màu vàng, các màu rực sáng gợi tiếng vang lớn. Gam tông màu nâu tạo sự tĩnh lặng gợi lại một ý tưởng xa xôi, tồn tại về lâu dài, màu nâu trông lịch sự trang nhã, những màu mát nhẹ gần với sự êm dịu ngân dài. Màu vàng chanh gợi cảm giác về vị chua, màu cam mang đến về sự ngọt ngào ngon miệng. Chính vì vậy màu cam và các sắc độ cùng tông hay được sử dụng rộng rãi trong nhà hàng, những ứng dụng cho đồ thực phẩm ăn uống. Màu đỏ, cam và các màu có độ mạnh chói được coi là các màu tích cực, kích thích hưng phấn. Những màu lạnh, màu đục tiêu biểu sự tĩnh lặng, nhã nhặn gắn liền với cảm giác về sự nhàn hạ, thanh lịch. Những tông màu tím nhạt, hồng phấn gợi cảm giác mơ mộng, lãng mạn hay được sử dụng trong đồ mỹ phẩm gợi cảm giác nhự nhàng, sự quyến rũ…
Phát triển cùng tư duy triết học cổ Trung Quốc, màu sắc được biết đến với những “Ngũ sắc – đỏ, vàng, trắng, đen” ứng với “Ngũ hành -Hoả, Thổ, Mộc, Kim, Thuỷ” là năm thành phần nguyên bản tạo nên thế giới. Màu sắc đã được con người đề cập tới từ rất sớm từ khi hình thành ý thức xã hội, là yếu tố cần khám phá phục vụ nhu cầu trong cuộc sống. Người Trung Quốc nói riêng và người phương Đông nói chung đều có quan niệm: -Màu đỏ là màu tượng trưng cho sự may mắn. Đỏ là màu sung sướng, nồng nhiệt, hạnh phúc, chỉ có sức mạnh, có danh vọng. Màu đỏ được dùng trong các ngày đại hỉ – đám cưới, khánh thành nhà mới… hay trong dịp tết. Sắc đỏ truyền thống đó hẳn trong mỗi người dân đát Việt ta đều không quên được câu đối ngày Tết “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ ”.

Chính vì vậy màu đỏ là màu rất được ưa chuộng ở phương Đông. -Màu vàng tượng trưng cho quyền uy, giàu sang , phú quý. Màu vàng được sử dụng nhiều ở chốn cung đình xưa. Vua chúa thường lấy màu vàng làm màu tượng trưng của mình được sử dụng trong trang phục, sắc phong, trang trí nhà cửa… – Màu đen tạo cảm giác sâu thẳm về bề mặt lẫn chiều sâu, tượng trưng cho sự huyền bí, u ám, đen tối gắn liền với lực lượng siêu nhiên bí hiểm mà con người chưa khám phá ra được. – Màu xanh còn liên tưởng tới rừng cây, thuộc gam màu lạnh, là màu tượng trương cho mùa xuân, tốt tươi, thanh bình, hi vọng. – Quan niệm về màu sắc ở từng vùng, từng miền là khác nhau.

Phương Tây cho rằng màu trắng là tinh khiết, trong trắng, cô dâu trong ngày cưới thương mặc màu trắng. Còn phương Đông lại ngược lại, màu trắng thể hiện sự tang tóc, nên trong ma chay người ta hay dùng màu trắng. Những quan niệm đó không phải là bất biến, mà có sự thay đổi khi các nền văn hoá giao lưu ảnh hưởng lẫn nhau. Ngày nay màu trắng được sử dụng rộng rãi ở nước ta cũng như một số nước phương Đông khác trong cuộc sống. Những liên tưởng này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm mà con người cảm nhận được trong cuộc sống.
Cuộc sống chứa đựng trong nó biết bao màu sắc. Với những biểu hiện có tính quy luật của màu sắc, con người đã thể hiện được những ý tưởng chủ quan của mình. Cùng những hiểu biết về màu sắc trong cuộc sống như quan niệm, thói quen tâm lý, tín ngưỡng … sẽ giúp người họa sỹ thiết kế đạt được thành công trong thiết kế đạt được thành công trong thiết kế sản phẩm của mình phục vụ cuộc sống.

Share Button

Chọn màu cho thương hiệu

Chọn màu cho thương hiệu: đưa ra quyết định không dựa trên quan điểm nghệ thuật.

Nhiều nghiên cứu cho thấy màu sắc ảnh hưởng đến cảm xúc bằng nhiều cách đa dạng khác nhau. Quan trọng hơn, màu sắc tác động tức thì đến khách hàng, người tiêu dùng. Chị Leslie Harrington, chuyên gia tư vấn màu sắc kiêm Giám đốc Điều hành The Color Association nhấn mạnh: “Tương tác đầu tiên là màu sắc: ăn sâu vào trí nhớ con người trước nhất”.

Harrington đã viết luận án Tiến sĩ có tựa đề “Chiến thuật màu sắc: Sử dụng màu sắc để tăng giá trị sản phẩm và thương hiệu”, khuyên khách hàng đừng chọn màu theo sở thích hoặc cảm tính nghệ thuật, mà hãy dựa trên quyết định kinh doanh. Chị giải thích: “Thông thường, đến phần quyết định màu sắc, nhiều CEO phó mặc cho nhà thiết kế, vì nghĩ đó là phần việc của nghệ sĩ. Nhưng, tôi tin rằng màu sắc cần được chọn theo tiêu chí kinh doanh để phát triển chiến lược công ty”.

Nhiều khảo sát thực tế cho thấy 60% – 80% quyết định mua hàng của người tiêu dùng dựa trên màu sắc sản phẩm. Harrington nhắc nhở: “Công đoạn chọn màu cho thương hiệu hoặc sản phẩm không làm doanh nghiệp tốn thêm bao nhiêu tiền bạc hay thời gian. Nhưng ngược lại, nếu hấp tấp chọn màu sai thì không thể kết nối tốt với khách hàng”.

Chọn màu cho thương hiệu: Tuyển lựa kỹ càng.
Mỗi màu tạo nhiều hiệu ứng khác nhau, tùy hoàn cảnh. Ví dụ như nếu bạn thích mua chai dầu gội đầu màu cam, nhưng chẳng bao giờ mua chiếc xe hơi màu chói như vậy. Do đó, khi đang cân nhắc chọn màu cho sản phẩm hoặc chiến dịch tiếp thị, doanh nghiệp cần nghiên cứu chọn lựa của các đối thủ và tìm hiểu mỗi màu chuyển tải những thông điệp cụ thể gì.
Jill Morton, chuyên gia màu sắc kiêm tác giả loạt e-book về màu sắc: “Hãy vào tiệm bán hàng và ghi nhận màu sắc của các sản phẩm bày bán ở đó… Khi sản phẩm của bạn được bày bán trong siêu thị hay cửa hàng tiện lợi, nó sẽ được xếp kế bên 20 hay 30 sản phẩm cùng loại. Có thể chọn màu nổi bật. Tuy nhiên, màu quá quái đản là con dao hai mặt. Tùy trường hợp, cần cân nhắc kỹ.
Quan trọng là nắm bắt ý nghĩa màu sắc. Ví dụ như xanh da trời đại diện cho sự sạch sẽ, khỏe mạnh, an toàn. Xanh lá cây thì hài hước, mạo hiểm, khác biệt… Vậy nên, nắm bắt khách hàng mục tiêu của mình muốn gì, thì bạn có thể dễ dàng lựa chọn màu thích hợp.
Chọn màu cho thương hiệu: thoải mái, tự do sáng tạo.
Harrington cho biết: “Nhiều công ty nghĩ rằng chọn màu thông dụng hoặc chọn màu khách hàng thích thì sẽ dễ bán sản phẩm. Nhưng, không hẳn vậy. Màu sắc thời thượng, bắt mắt, nhưng không gắn kết với hình tượng doanh nghiệp, không sáng tạo đột phá, thì cũng không để lại ấn tượng trong lòng người tiêu dùng”.
Ví dụ như trường hợp hãng Volkswagen cho ra mắt bảng quảng cáo xe Beetle màu xanh lá cây dạ quang. Đó là màu rất lạ đối với sản phẩm xe ôtô. Tuy nhiên, nó lại thể hiện chính xác thông điệp mà hãng muốn thể hiện: sự tái sinh.
Chị Harrington kể: “Màu xanh lá cây dạ quang tác động mạnh đến cảm quan khách hàng. Volkswagen đã thông qua màu sắc quảng cáo để thể hiện thông điệp tái sinh thật hoàn hảo. Cho dù sự thật là khách đến mua xe chỉ có thể chọn một trong hai màu đen hoặc bạc”.
Điều này tương tự một hiện tượng tâm lý màu sắc khác thường gặp ở các cửa hiệu trưng bày: ví đầm màu hồng nổi bật ở cửa kính tiệm bán lẻ để lôi kéo khách vào tiệm mua ví đầm màu đen.

Chọn màu cho thương hiệu: Khi cần thay đổi.
Không chỉ công ty mới khởi nghiệp cần chọn màu sắc thương hiệu và sản phẩm, mà một công ty đang hoạt động cũng có thể thay màu áo mới để đánh động tâm lý khách hàng rằng mình đang tiến triển theo chiều hướng hiện đại.
Khi muốn làm mới logo hoặc thay màu sản phẩm, thì có vài điều cần lưu ý. Theo Leathice Eiseman, Giám đốc Điều hành của Pantone Color Institute, một chuyên gia màu sắc quốc tế, thì: “Trước nhất, bạn cần cân nhắc là mình muốn giữ lại phần nào đó của quá khứ hay là thay đổi hoàn toàn”
Thông thường, các công ty chọn giải pháo là giữ lại một vài màu và thay một vài màu, để tạo sự mới lạ mà không đến nỗi khác biệt hoàn toàn đến gây “shock”. Ví dụ như sự thay đổi màu sắc của Kodak: muốn chuyển đổi hình ảnh trong mắt khách hàng từ doanh nghiệp phim và giấy chụp ảnh thành doanh nghiệp ảnh kỹ thuật số. Thế nên, họ thêm màu đỏ vào cạnh màu vàng thương hiệu cũ: hiện đại nhưng vẫn là Kodak chất lượng.

Theo TKDH

Share Button

Sáng tạo – dễ mà khó

Hình ảnh khuôn sáo về một xưởng thiết kế được tạo nên bởi các nhân viên tuyên bố rằng họ không bị quản lý vì họ là những người “sáng tạo.” Nhưng các kỹ thuật quản lý của xưởng thiết kế IDEO có thể cho các giám đốc điều hành thuộc tất cả các lĩnh vực hiểu quản lý thực sự là như thế nào. Trong trí tưởng tượng của chúng ta, đây là hình ảnh làm việc của một xưởng thiết kế: Có rất nhiều những người sôi nổi và sáng tạo. Họ ở trong một căn phòng rộng. Họ tcần một căn phòng lớn vì tài năng, tính cách và bản ngã của họ đều lớn. Nơi làm việc của họ rất lộn xộn. Các đốm sơn, băng dính, bút đánh dấu, bảng trắng, khung vẽ… khắp nơi.

Lúc này là 3 giờ sáng. Công trình cần được bàn giao vào 9 giờ sáng. Thật khó có thể hoàn thành công việc đúng hạn.

Hình ảnh đó từng là công thức của các xưởng thiết kế, nhưng bây giờ không còn đúng nữa. Vì nhận thức về công việc thiết kế đã phát triển, nên giờ đây các nhà thiết kế sử dụng các kỹ năng quản lý rất truyền thống kết hợp với các kỹ năng quản lý dự án hiện đại để tạo thành một hỗn hợp đầy tính sáng tạo.

Chuyên gia về quản trị hiện đại Eddie Obeng đã làm việc với công ty thiết kế IDEA để xây dựng khả năng quản trị dự án. Obeng công nhận rằng ban đầu có một chút nghi ngờ trong công ty. “Họ không tin vào công tác quản trị và cho rằng tôi tới để dạy họ làm những việc mà họ không muốn làm. Họ coi việc quản lý dự án truyền thống là hoàn toàn ngu ngốc. Thật may mắn là tôi lại đồng ý với họ.”

Trong giới thiết kế nói chung và IDEO nói riêng, nghi ngờ là một yếu tố bình thường trong công việc Colin Burns, giám đốc xưởng thiết kế ở London của IDEO, cho biết: “Hoài nghi là một phẩm chất hữu ích trong ngành dịch vụ cố vấn chuyên nghiệp. Tại IDEO, chúng tôi có truyền thống mạnh mẽ và nhận thức rõ ràng về việc chúng tôi là ai và chúng tôi làm việc như thế nào. Chúng tôi có khả năng làm-tất-cả của nước Mỹ, đặc biệt là của thung lũng Silicon. Nhiều người trong số chúng tôi đã từng ở California, vì vậy chúng tôi cung cấp dịch vụ kiểu Silicon ngay tại châu Âu. Thêm nữa, chúng tôi có những kiến thức về văn hóa và môi trường mà một trường nghệ thuật Anh quốc có thể dạy cho sinh viên của họ. Chúng tôi đặt câu hỏi và luôn tích cực tìm kiếm các công việc tiếp theo cũng như cách thức cải thiện chất lượng công việc. Ở đây, mọi người thực sự rất ham hiểu biết.”

Tính hoài nghi không chỉ được giải thích là do đào tạo. Nó còn được giải thích bởi thực tế về cái mà IDEO coi là tiêu chuẩn sáng tạo. Chính đổi mới và làm dự án là điều mà công ty này thực sự am hiểu. Tại Hoa Kỳ, IDEO đang dạy các tổ chức khác cách sáng tạo. Tom Peterson đã tuyên bố vào lần đầu tiên tới thăm văn phòng của Palo Alto tại IDEO: “Cuối cùng điều đó đã xảy ra. Tôi đã được thấy một công ty mà tôi thực sự muốn được làm việc tại đó!” IDEO được coi là một trong những nơi làm việc tuyệt nhất trên thế giới.

Công ty lần đầu tiên nổi lên dưới sự lãnh đạo của Bill Moggridge ở London vào những năm 1960. Khi ngành công nghiệp của nước Anh “húc đầu vào đá ” vào cuối thập niên 1970, Moggridge đã tìm một nơi khác để làm việc. Ông đã tới thung lũng Silicon, nơi mà ông cho là hấp dẫn.để phát triển sự nghiệp. Moggridge đã liên kết với nhà thiết kế người Mỹ David Kelley. Chẳng bao lâu sau, hai công ty của Moggridge và Kelley đã được bổ sung thêm một công ty mới do nhà thiết kế người Anh Mike Nuttall. Sau đó các công ty hợp nhất lại và tạo thành IDEO. Các dự án là nguồn sống của công ty. Các nhân viên sáng tạo của IDEO tại trụ sở Clerkenwell, London được chia thành bốn nhóm. Các nhóm dự án ất linh hoạt và chuyển dễ dàng từ dự án này sang dự án khác. Burns cho biết: “Dự án là văn hóa của chúng tôi.” Tuy nhiên, khi làm việc với Eddie Obeng, IDEO đã xem xét lại toàn bộ cách thức điều hành và quản lý dự án của công ty.

Theo Obeng, “IDEO cần phải cung cấp các ý tưởng đổi mới một cách nhất quán hơn. Họ là một nhóm người trẻ tuổi có tính đổi mới và sáng tạo cao, đang cần một phương pháp tiếp cận dự án có thể giúp họ phát huy tối đa các điểm mạnh của họ và tạo ra tính linh hoạt chứ không phải sự hạn chế và nghiêm khắc.” Công việc của Obeng với IDEO tập trung vào hành vi và tác động; nhân viên cam kết với khách hàng ở mức độ nào; và nghiên cứu những vấn đề có thể xảy ra với một dự án và lập kế hoạch để tránh các vấn đề đó.

Trên thực tế, bài thuyết trình về quản lý dự án hiện đại của Obeng liên quan đến “sự gắn bó tình cảm” và gồm cả các bài thuốc thực tế để tránh “hội chứng xác chết” giải thích: “Hội chứng này xảy ra khi tất cả mọi người đều vội vã làm việc để xong việc trước hạn cuối cùng. Mọi người chèn lên nhau ở dọc đường. Khi kết thúc dự án, nhiều nhân viên của bạn đã nhão ra vì mệt và đầy vết thâm tím.”

Mối hoài nghi ban đầu về việc quản trị dự án đã không còn nữa. “Mối nghi ngờ biến mất khi mọi người nhận ra rằng bằng cách thực hiện dự án khoa học hơn, họ tiết kiệm được công sức giải quyết các khiếu nại của khách hàng. Nhờ đó, họ có nhiều thời gian và sức lực để đầu tư vào khía cạnh sáng tạo trong công việc.”

Nền văn hóa chung của IDEO có thể được miêu tả là đã trưởng thành về khía cạnh quản lý. Giai thoại về công ty (được kể lại trong cuốn sách hấp dẫn Nghệ thuật Đổi mới của Tom Kelley) chứa đầy những mẩu chuyện về việc các xe đẩy trong siêu thị được thiết kế lại trong vòng một tuần và việc công ty đã thiết kế con chuột đầu tiên của máy tính Apple như thế nào. Trong những câu chuyện về việc phát triển chiếc máy ảnh lấy hình ngay dành cho một người sử dụng đầu tiên, việc cách mạng hóa kính che mắt mọi địa hình, và phát minh lại chiếc công tắc đèn, chẳng có nơi nào nhắc đến chi phí và lợi nhuận cả. Người ta ngầm hiểu rằng các thiết kế thông minh, mang tính giải pháp cao như vậy mang lại nhiều tiền cho cả công ty và các khách hàng. Burns nói: “Chúng tôi là một công ty thiết kế – làm công việc thiết kế sản phẩm, thiết kế dịch vụ và thiết kế môi trường. Chúng tôi chú trọng đến những thứ hữu dụng, tiện lợi và thú vị. Đó là thiết kế dựa trên yêu cầu khách hàng. Việc của chúng tôi là làm tiến hóa mọi thứ. Chúng tôi cố gắng tìm kiếm để làm những công việc mới. Trọng tâm của doanh nghiệp này là sử dụng các ý tưởng thiết kế để làm cho khách hàng trở nên cao giá hơn.”

Một khía cạnh đáng chú ý nữa của IDEO là nó không mở rộng với một tốc độ quá nhanh dẫn tới nguy hiểm. Thực tế là xét dưới mọi góc độ, khó có thể nói rằng công ty này đã mở rộng. Mặc dù được ca ngợi khắp nơi trên thế giới và có lợi nhuận cao, nhưng IDEO có tổng cộng khoảng 370 nhân viên trên toàn thế giới, so với con số này năm 1991 là 140 người. Riêng ở xưởng thiết kế London hiện nay có 60 nhân viên.

Một sự mở rộng rất từ từ. Burns phát biểu quan điểm: “Chúng tôi đã mất 30 năm mới có được một đội ngũ mạnh gồm 60 nhân viên. Sự phát triển chậm rãi là hết sức quan trọng. Chúng tôi phải có khả năng đón chào sự thay đổi, quản lý sự thay đổi và phát triển một cách có tổ chức. Nhiều công ty thiết kế khác đã phát triển quá nhanh. Họ phát triển tới mức đánh cả vào những cái trống không phải của họ. Và vì vậy họ được đưa ra cổ phần hóa hoặc sát nhập với các công ty thiết kế khác. Những thường thì các diến biến này chẳng đưa lại kết cục nào tốt đẹp cả.”

Trong thời đại của các công ty không lổ luôn nóng lòng săn được con mồi mới nhất, thì khó có thể nói IDEO thuộc trường phái mở rộng. Công ty này có sáu văn phòng tại Mỹ và có chi nhánh ở London, Munich, Tokyo và Tel Aviv. Theo lời Burns thì hầu hết các văn phòng nhánh của công ty được sinh ra khi một người nào đó muốn trở về quê nhà.

Một trong những đặc điểm chính cuả nền văn hóa công ty này là xưởng thiết kế kiểu IDEO không phải là một dây chuyền sản xuất với tất cả nguồn gốc của sáng tạo tập trung ở một đầu dây chuyền. Nhà thiết kế tài năng không đi ra đi vào trong khi một nhóm các phụ tá đang cần mẫn làm việc trên tác phẩm mới nhất của anh ta. Burns tự hào nói: “Nền văn hóa của chúng tôi đúng là cái mà người ta gọi là “xưởng”. Hầu hết các công ty thiết kế được xây dựng dựa trên tài năng của một cá nhân nào đó, và khi cá nhân đó ra đi thì công ty cũng sụp đổ. Nhưng một xưởng thiết kế sẽ làm việc hiệu quả nhất khi tác phẩm của mọi người được công khai để đón nhấn các lời phê bình. Mọi người đều đầu tư cái gì đó vào tác phẩm. Một phần công việc ở xưởng thiết kế này là bạn phải bảo vệ điều mà bạn cho là đúng.”

Xét về nhiều phương diện, một xưởng thiết kế với cách hoạt động của IDEO là một mô hình tổ chức phù hợp với thời đại hiện nay. Ban đầu, nó là một công ty nhỏ giàu sức sáng tạo; nó phát triển chậm về mặt quân số, nhưng là công ty lớn xét về mặt giao thương, và đòi hỏi một lòng tự ái tối thiểu. Các nhà thiết kế của IDEO có thể đóng vai chính trong dự án này rồi lại tìm thấy mình trong đám đông phụ việc ở dự án tiếp theo.

Việc duy trì một nền văn hóa doanh nghiệp như vậy đòi hỏi sự cống hiến nhiều hơn là các ý tưởng sáng tạo kỳ quặc. Tính đỏng đảnh ngôi sao không có chỗ ở đây. Khi so sánh với nhiều tổ chức khác, quá trình tuyển dụng của IDEO khá dài. Burns kể: “Chúng tôi dành nhiều thời gian nói chuyện với mọi người và suy nghĩ xem họ có thể phù hợp với công ty đến mức nào. Các thành viên trong nhóm làm việc đều có quyền phát biểu. Đặc điểm tính cách là yếu tố hết sức quan trọng vì chúng tôi phải dựa vào nhau để làm việc. Đây là một công việc có tính người nên mỗi người phải biết cách phối hợp làm việc với nhau và tôn trọng lẫn nhau. Trong công ty, những người ích kỷ sẽ không thể làm việc hiệu quả.”

Rõ ràng là việc quản lý trong một công ty kiểu như IDEO không phải giống như trong sách giáo khoa mô tả. Trong xưởng thiết kế, người lãnh đạo không phải là kẻ bù nhìn can đảm. “Điều quan trọng là mỗi người đều gánh vác trách nhiệm cá nhân và đưa ra các quyết định đúng đắn. Người quản lý cần phải thúc đẩy họ chứ không phải dắt mũi họ. Cần phải có người lùi lại để nhìn bức tranh công ty một cách toàn cảnh. Vì thế vai trò của tôi là nhìn về hướng chân trời để xem tất cả cùng làm gì trong giai đoạn tiếp theo.”

Câu hỏi lớn đặt ra là liệu một nền văn hóa như của IDEO có kéo dài được lâu không. Colin Burns khẳng định: “Chúng tôi là thế hệ quản lý thứ hai của IDEO. Đây là bằng chứng tích cực cho thấy nền văn hóa của chúng tôi tồn tại bền vững với thời gian.” Các dự án đều được thực hiện đúng lịch trình vạch ra.

Theo bwportal

Share Button

Các phương pháp thể hiện của logo.

Thường kết hợp các hướng chủ yếu như: Trình bày nguyên dạng tên chữ của biểu tượng, giản ước tên chữ thành một tổ hợp chữ cái và sử dụng hình ảnh sản phẩm, dùng một hình ảnh và một dấu hiệu.

1. Sử dụng hình thức nguyên dạng tên chữ:

Thường tạo cho mẫu chữ một dáng vẻ đặc biệt gợi những liên tưởng sâu xa về tính chất công ty, đơn vị mà nó đại diện
Ví dụ: Bằng mấy nét nhấn ở đầu N trong hàng chữ SANYO giúp tiềm ẩn một nguồn năng lực nội, lại liên tưởng tốt đẹp về đồ diện.

2. Hình thức tổ hợp các chữ cái hoặc dùng chữ cái đầu của tên công ty, tổ chức.

Bản thân đã mang tính giản ước rõ rệt.

Bố cục thường dễ đạt hiệu quả.

Hình ảnh phải được cách điệu cao.

Tái tạo lại một hình ảnh mới của sản phẩm tránh sự nhàm chán.

Ví dụ: Pepsi Cola + Hình dáng chiếc nắp chai được cách điệp thành một hình tròn đỏ – xanh vói sọc trắng hình làn sóng nằm giữa, liên tưởng đến sự ngọt ngào, cảm giác thỏa mái, thú vị tận hưởng.

3. Mượn một ẩn dụ và một ký hiệu nào đó?

Nói lên bản chất của đối tượng Đòi hỏi:

      Trí tưởng tượng.

      Kiến thức rộng.

      Những suy nghĩ tiềm tàng.

      Những liên tưởng sắc sảo
Ví dụ: Logo của hãng dầu Shell, hình cong con sò ẩn dụ về nguồn năng lượng thiên nhiên cổ xưa và vĩnh cửu (nguồn gốc dầu mỏ là do động, thực vật sau những biến động của trái đất bị vùi sâu dưới các tảng địa chất, bị phân hủy bởi cảc khuẩn môi trường yếm khí mà ra sự liên tưởng về các lớp trầm tích của vỏ đất, nơi khai thác ra dầu mỏ).

Các yếu tố thành phần (hình tượng).

      Thường được vẽ cùng với tên công ty và tổ chức Logo đó.

      Tên gọi của logo, xuất xứ tác phẩm, phân biệt sản phẩm của công ty này, hình ảnh nào khác.

      Có khi được thiết kế bằng chính tên gọi của logo mà không cần sử dụng hình ảnh nào khác.

      Phải được tạo hình một cách thật đặc biệt, không lẫn lộn với MARK, sản phẩm khác của công ty.

      Mang đầy đủ tính chất thông tin, bản chất hoạt động của công ty, các mục tiêu thương mại.

      Bao gồm những mẫu thích hợp thể hiện ý đồ thông điệp một cách hợp lý và minh bạch.

1. Kiểu chữ:

      Mang ý nghĩa về tạo hình, tính chất thông tin.

      Được quan niệm như một hình tưởng như bất cứ hình tượng nào khác.

      Mỗi kiểu chữ không chỉ đơn thuần mang những từ ngữ của thông điệp mà nó nâng cao còn hỗ trợ cho hình ảnh sản phẩm nó đại diện.

      Chữ cái có thể lấy từ các kiểu chữ Roman, San Serif hay Script.

      Có thể chuyển hóa sang dạng trừu tượng, tạo ấn tượng thể hiện.

      Tạo được sự hấp dẫn bằng cách pha màu, tạo hạt Tram bằng máy vi tính, tạo dáng, tạo kiểu.

      Các nhà thiết kế phải nắm được các kiểu chữ, khảo sát các phong cách chữ khác nhau trước khi đi đến quyết định cuối cùng.

Những yếu tố quan trọng.

+      Tính dễ đọc.

+      Khoảng cách chữ.

+      Sự thích ứng, ngữ nghĩa phải phù hợp với hình thức của bản thân chữ nhằm mục đích đạt được ý đồ sáng tạo ý nghĩa trong cách trình bày chữ.

Bảo đảm trong việc chọn kiểu chữ, phong cách chữ:

+      Hình thức của chữ nằm trong sự phối hợp hài hòa giữa các nét bản, nét phụ, nét trang trí của từng loại chữ, kiểu chữ.

+      Kích cỡ, bề dày không quá năng nề.

+      Không quá vô nghĩa

+      Rõ ràng và không hỗn độn.

      Ngoài các kiểu chữ thông thường, các kiểu chữ hoa văn, uốn lượn, kiểu chữ viết tay đều có thể sử dụng được (có thể mang tính trừu tượng), đưa vào hình ảnh đồ họa tao nên một logo, ký hiệu trừu tượng, cuốn hút.

Ví dụ: Logo của công ty Kim Hoàn sử dụng kiểu chữ nhỏ nét và trang trí phản ánh vẻ đẹp của đồ trang sức.

Logo một công ty xây dựng sử dụng nét chữ cứng và to hơn.

Các công ty, đơn vị không có tính chất sắc nét như vậy, tìm một kiểu chữ giống với tính chất và sắc điệu của sản phẩm.

Chữ:

+      Có thể chỉ là những con số.

+      Là một chữ.

+      Một sự tập họp của hai, ba hoặc bốn chữ cái.

+      Của cả một tên chữ.

+      Đòi hỏi:

+      Phải có sự cách điệu trên bản thân hình chữ làm cho khác đi với các dạng kiểu chữ trong các Mark sản phẩm khác.

+      Tạo cho bản thân chữ (yếu tố quan trọng) trở thành có nghĩa.

Ví dụ: Logo AQUEDCT của trường đua ngụa với dáng chữ A rất đẹp nó là sự vững chãi của dáng chữ SANS SERIF kết hợp với sự năng động khẩn trương của chữ nghiêng, đầu chữ kéo dài thêm, ấn tượng lôi cuốn người xem vào cuộc đua ngựa hào hứng, tộc độ, mạnh mẽ.

2. Tên gọi: Một công ty thường có tên:

      Thương mại: là tên mà một công ty mang để kinh doanh.

      Tên giao dịch: là tên công ty sử dụng khi giao dịch với các công ty và tổ chức khác thường được thiết kế, sử dụng làm tên gọi của logo bởi tính chất:

+      Đơn giản.

+      Quốc tế hóa.

+      Tạo sự phân biệt cao.

+      Thuận lợi trong kinh doanh, in ấn, quảng cáo.

Những yêu cầu cơ bản nhất để tạo nên một tên gọi thật hiệu quả cho logo.

Quốc tế hóa.

      Một tên gọi nếu không được quốc tế hóa thì sản phẩm khó tiêu thụ được trên thị trường thế giới.

Ví dụ: Người nước ngoài sẽ khó nhớ hoặc đọc một cách trôi chảy tên công ty sữa Việt Nam, nên quốc gia hóa thành VINAMILK, ngắn gọn, dễ hiểu.

      Một cái tên tuy đã mang tính quốc tế hóa nhưng tên gọi vẫn quá dài thường rút ngắn lại bằng cách tổ hợp các chữ cái đầu.

Ví dụ: COKE,  Coca Cola…

      Khi tổ hợp một tên gọi tạo hình cho chính bản thân chữ để mang những sắc thái mới, những dáng vẻ mới mang đầy đủ ý nghĩa của tên gọi mà nó tổ hợp lại.

Âm thanh.

      Tên gọi trong logo về âm thanh lúc đọc không gây sự nhầm lẫn và trùng lặp với mặt ngữ nghĩa. Phải dễ nghe lẫn khi đọc tên. Ví dụ: Giày Biti;s với giày Bita’s

      Khi phát âm thường nên quá bốn âm, hai ba âm là tốt nhất, mỗi âm đọc lên phải dễ dàng. Tạo một sự liên tưởng tích cực.

      Không được đồng âm với những từ địa phương khi phát âm mang một nghĩa xấu.

Ý nghĩa

      Tên gọi không bao hàm nghĩa xấu khi ở trong nước và ra nước ngoài. Phải tránh không bị “chơi chữ” thành một nghĩa xấu, không bị gây khó chịu ở nước ngoài.

LANTABRAND sưu tầm

Share Button

Design là gì?

Design chính là quá trình thai nghén để có được một sản phẩm tốt và tồn tại lâu dài trong lòng công chúng.

Nhiều người cho rằng design là một cái gì đó cao cấp, sang trọng. Nhưng thực tế không phải vậy. Đây là một từ tiếng Anh được dùng vào thế kỷ 17 để chỉ bố cục của một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng nguồn gốc thật sự của design là từ tiếng La tinh: designare, vừa có nghĩa là vẽ, vừa có nghĩa là có một ý định. Theo thời gian, chữ design được sử dụng song hành với trào lưu của cuộc cách mạng công nghiệp.

Chữ design tự thân nó đã mang một ý nghĩa quốc nội, thể hiện quốc hồn quốc tuý của một quốc gia. Nếu như người Anh có những cabin điện thoại công cộng sơn màu đỏ, người Đức có các sản phẩm điện gia dụng Braun, thì người Pháp có chiếc nồi Le Creuset. Mỗi một sản phẩm này đều được xem là hình ảnh của đất nước và được cả thế giới biết đến. Vì thế, ở ngữ nghĩa chung nhất, từ design không bao giờ đại diện cho một cái gì gọi là cao sang mà bao gồm tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày, từ việc sử dụng chất liệu cho đến các công đoạn tạo dáng sản phẩm. Đây là một công việc phức tạp và đòi hỏi tính sáng tạo cao. Chuyên viên design Mario Bellini từng nói: Mãi đến ngày nay, thiết kế một chiếc ghế cũng khó khăn như xây một ngôi biệt thự vậy!.

Khi xuất bản bộ sách về design, giám đốc Emilia Terragni giải thích: Chúng ta ngày càng đòi hỏi cao hơn khi lựa chọn các sản phẩm trên thị trường, và đôi khi chọn sản phẩm chỉ vì yêu thích thương hiệu đó mà thôi. Từ đó có thể nghiệm ra rằng đằng sau một chiếc ghế, một chiếc đèn bàn, một chiếc đồng hồ đều ẩn chứa ý nghĩa chuyển tải rất súc tích và dấu ấn của cả một thời đại, một xã hội và một tâm hồn.

Như vậy, chuyên viên design gánh vác một trách nhiệm nặng nề. Họ có nhiệm vụ phải luôn tự vấn mình về ý nghĩa hữu dụng và giá trị tinh thần của một sản phẩm, sao cho sản phẩm đó phải có chất lượng tốt và thoả mãn được các tiêu chuẩn cơ bản nhất của thời đại mà nó được tạo ra. Nói tóm lại, Design chính là quá trình thai nghén để có được một sản phẩm tốt và tồn tại lâu dài trong lòng công chúng.

 

Theo L’Express

Share Button

“Đi tìm chân lý” của một bà lão việt kiều 78 tuổi!

Đây là câu chuyện có thật 100%, theo ý nguyện của bà lão nên tôi muốn chia sẽ với mọi người biết đến. “Cuộc đời thật khốn nạn quá cậu ơi!” đó là câu cửa miệng của bà lão hay nói với tôi khi tôi trò chuyện với bà. Tôi muốn cộng đồng mạng nói lên sự công bằng với Cụ, vì giờ Cụ không biết trông cậy vào ai, Cụ muốn tự vẫn để thoát cảnh uất hận của cuôc đời này. Tôi tạm gọi bà là Cụ Nguyên (vì Cụ tên Nguyên). Tôi thật sự cảm động trước tấm lòng cao cả của bà cụ và sự cô đơn (lúc nào cũng một mình) tuổi về chiều của cụ nên tôi viết lên câu chuyện này để chia sẽ với mọi người và theo nguyện vọng của cụ để mọi người biết đến. Cụ Nguyên bị lạc gia đình từ nhỏ đến nổi giờ này không nhớ, không biết mình lớn lên ở xã, huyện nào mà để tìm về chỉ biết lúc nhỏ Cụ ở Thái Bình. Cụ đã lập gia đình với một sĩ quan chế độ cũ thời trước khi hòa bình, vì Cụ Nguyên không thể có con nên chồng của Cụ đã cưới thêm một Cụ nữa , tôi tạm gọi là Cụ Mai (vì Cụ tên Mai). Cuộc sống hòa thuận nên Cụ Nguyên nuôi nấng học hành cho 4 đứa con của Cụ Mai, xem như con ruột của mình chăm sóc từ khi còn trong bụng mẹ, vậy mà giờ đây 4 đứa con mà Cụ Nguyên chăm sóc ai cũng đã lớn khôn, ai cũng có gia đình riêng, mà không nghĩ đến công lao của Cụ Nguyên đến nỗi Cụ Nguyên thốt lên với tôi rằng, “chăm sóc 4 đứa con (không phải của Cụ Nguyên) từ trong trứng nước, mà giờ này tết đến không được một cục kẹo của chúng nó”. Tôi là người không quen biết đến Cụ mà còn cảm động trước tấm lòng của cụ không hiểu sao 4 người con được chăm sóc của Cụ Nguyên nghĩ thế nào? Lúc nào cần tiền cũng vòi vĩnh Cụ, đến nỗi Cụ Nguyên nói với tôi “Cái gì cũng xin tiền, cái quần, cái áo, chiếc xe … đến nỗi đôi dép cũng xin tiền cụ, nhưng tết đến thì không cho Cụ được 1 cục kẹo nữa, hoặc 1 lời hỏi thăm” Cụ Nguyên đã qua Mỹ năm 1975, đem theo 2 đưa con trai của Cụ Mai sang đó chăm sóc, ở lại Việt Nam chỉ còn 1 người con trai cả và một người con gái với cụ Mai. 2 người con trai theo Cụ Nguyên sang Mỹ họ giờ đã lớn khôn có gia đình riêng và cơ ngơi đàng hàng dọ công lai Cụ Nguyên tạo dựng nên cho họ. Vì cuộc sống bên Mỹ sung sướng nên Cụ Nguyên muốn đưa luôn con trai cả sang Mỹ vì vậy mà Cụ lặn lội từ Mỹ về Việt Nam để lo tiền cho con trai cả sang bên đó, mặc dù con trai cả cũng không phải là con ruột của Cụ Nguyên. Cuộc trở về Việt Nam lần này làm cụ quá thất vọng về cuộc đời, về niềm tin với con cái. Cụ Nguyên nói với tôi rằng sau khi xuống máy bay cụ đã xuống nhà người con gái út của Cụ Mai, người con gái mà Cụ Nguyên chăm sóc lúc còn trong trứng nước, cho ăn học giờ đã có gia đình riêng. Cụ Nguyên bị họ đối xử như một kẻ thù mà Cụ Nguyên không biết lý do tại sao. “Con rể thì xô ra khỏi nhà, con gái thì đánh bầm tím tay, cháu ngoại thì lấy nước dơ đứng trên lầu đổ xuống…” đó là lời kể của Cụ Nguyên với tôi. Cụ đã thắc mắc không biết lý do tại sao chúng làm như vậy với Cụ. Không nhớ ơn chăm sóc, cho ăn học… thì thôi mà giờ còn hành động như vậy. Cụ đã thưa ra chính quyền để đòi lại sự công bằng cho Cụ nhưng không ai giải quyết cho Cụ cả. Còn Cụ Mai thì ban đầu ở chung nhà với Cụ Nguyên (căn nhà này do cụ Nguyên gửi tiền giành giụm từ bên Mỹ về mua và xây dựng, nhưng không do Cụ đứng tên, mà do Cụ Mai đứng tên), nhưng Cụ Mai đã lấy 3 triệu đồng của Cụ Nguyên và đi về ở chung với con gái. Vì tôi thấy không có ai can thiệp giúp đỡ Cụ Nguyên để đòi lại sự công bằng, niềm tin vào cuộc sống này. Tôi đã từng khuyên cụ đến lãnh sự quán Mỹ để họ can thiệp vì Cụ là người quốc tịch Mỹ. Cụ Nguyên mong ước là về Việt Nam sống (dù bên Mỹ hàng tháng Cụ nhận 1000$ và có xe hơi đi) nhưng Cụ muốn về Việt Nam vì đã lớn tuổi. Làm sao giúp đỡ để Cụ được về Việt Nam sống? lúc nào Cụ cũng hỏi tôi về có được vào hộ khẩu không cậu, ai biết thì giúp đỡ giùm Cụ. Còn sau đây là những nội dung cụ nhờ người ta viết mà tôi muốn chia sẽ với mọi người để có cái nhìn đầy đủ hơn:(còn tiếp phần 2, những bảng tường trình sự thật)

Share Button

Xây dựng thương hiệu và cái bản đồ

Bạn sẽ thắc mắc vì sao tôi lại lấy cái bản đồ so sánh với so sánh xây dựng thương hiệu?nếu chú ý nó sẽ có những điểm tương đồng.Nếu bạn tìm hiểu hành trình của người tiêu dùng, bạn sẽ nhận ra phải xây dựng thương hiệu như thế nào.

Trong một chuyến du lich hay một cuộc hành trình phiêu lưu khám khá thì bạn không thể thiếu một tấm bản đồ.Khi bạn bắt đầu cuộc hành trình,bạn sẽ khám phá có điều thú vị hơn, và cũng có khi lại nhàm chán vì một vài nguyên‎ do nào đó.
Cho dù như thế nào, thì ít nhiều đều cho bạn nhiều kinh nghiệm.

Hơn thế nữa, tất cả những nơi dừng lại trong suốt chặng đường, vì lý do nào đó chúng “kết hợp” với nhau thể hiện cuộc sống và tính cách của chúng trong tâm trí của bạn. Cuối cùng bạn kể về chuyến đi, với cảm xúc tổng quát, kết hợp trí nhớ, hình ảnh và ấn tượng vang vọng mãi qua thời gian.

Theo tôi quan sát, những gì xảy ra trong suốt bối cảnh xây dựng thương hiệu đều là giai đoạn cuối cùng.Tôi nhận thấy rằng khách hàng đều có cùng trải nghiệm. Chúng tôi đều thống nhất ở một điểm là thật sự thương hiệu ở đâu, bao gồm những nơi dừng lại trong suốt chuyến đi. Hãy gọi đó là cuộc hành trình của người tiêu dùng, nếu bạn thích.

Khách hàng tác động đến thương hiệu ở vô số điểm cụ thể, những điểm này lần lượt hướng về “thương hiệu “ với sự liên kết sẵn có giữa tính cách và ý nghĩa. Không còn kiểu cung cấp toàn bộ câu chuyện thương hiệu trong điều kiện được kiểm soát và hấp thụ nó theo trường hợp khách hàng đang nhặt mẫu giấy nói về câu chuyện thương hiệu dọc theo hành trình của họ.

Từ sự am hiểu về sách lược cho đến các quy trình thu thập thông tin, từ các yếu tố hình thành dịch vụ đến các hoạt động mang tính cách tự chủ và rèn luyện lòng trung thành, khách hàng của chúng ta biết được nhiều vấn đề cụ thể, đa dạng. Sự gia tăng phương tiện truyền thông, kỹ thuật, nguồn văn hóa, tất cả thể hiện ở nhiều hình thức và chiều hướng khác nhau.

Vài trường hợp do kinh nghiệm mà có: thiết kế sản phẩm như thế nào khi đến tay người tiêu dùng, sự tương tác với dịch vụ khách hàng, trang web, kinh nghiệm bán lẻ, nơi mà khách hàng tham gia một cách chủ động. Một vài điều được thể hiện bên ngoài sự đồng bộ của thương hiệu như quảng cáo, PR, logo, phân phối sản phẩm, đó là những điều mà khách hàng tiếp nhận một cách bị động.

Nhưng chỉ một số điểm tiếp xúc đó được phân phối bởi bộ phận marketing. Vì thế ranh giới với hệ thống xây dựng thương hiệu ngày càng mờ đi. Ngày nay, xây dựng thương hiệu phụ thuộc vào toàn bộ tổ chức. Thách thức ở đây là tạo cho khách hàng cảm hứng với cuộc hành trình, xác định nó rõ ràng cho cả khách hàng và doanh nghiệp, đó là điều khiến tôi cần tới bản đồ.

Không đơn thuần là một bản đồ về chặng đường đã hình dung trước, vấn đề là phản ánh thực chất của cuộc hành trình đó.

Bản đồ được vẽ sẵn, thực chất xuất phát từ quan điểm khách hàng

Am hiểu được hành trình của khách hàng là điều rất cần thiết, trước hết, phải biết chính xác có bao nhiêu điểm tiếp xúc then chốt, tiềm năng. Thoạt đầu, từ tầm nhìn của môt tổ chức, bạn có thể thấy nơi mà thương hiệu tiếp xúc với khách hàng, nơi nó có ý nghĩa tạo nên sự đầu tư vào thương hiệu có kinh nghiệm và nơi mà nó không làm được. Một bản đồ như thế là công cụ đơn giản nhưng hữu hiệu nhất trong quá trình xây dựng thương hiệu. Nó cũng tạo ra cái nhìn khái quát rõ nét về hành trình của khách hàng gắn bó nhau hay không và xác định các đơn vị kinh doanh của thương hiệu đóng vai trò gì để hình thành kinh nghiệm của khách hàng về thường hiệu.

Đưa ra nhiều điểm dừng khác nhau, điều này xác định doanh nghiệp có thể mang sự khác biệt của thương hiệu đến cuộc sống bằng cách nào và ở đâu, nơi mà từ đó có thể điều chỉnh định vị thương hiệu và hiểu rõ khách hàng .

Bản kế hoạch hiệu quả có thể giúp tổ chức hiểu được thương hiệu đến với khách hàng ở nơi nào, ở đâu quan trọng và ở đâu không quan trọng cho cả khách hàng và phân khúc. Trong khoảnh khắc, nó có thể tập trung toàn bộ tổ chức vào nhu cầu và đòi hỏi của khách hàng, cho thấy mỗi điểm tiếp xúc cụ thể liên quan đến ý tưởng thương hiệu ra sao và có ảnh hưởng đến các điểm khác hay không.

Quan trong nhất là một bản đồ về hành trình của khách hàng có thể thiết lập từ cái nhìn bao quát trên khía cạnh doanh nghiệp, nơi làm cho việc đầu tư vào các hoạt động xây dựng thương hiệu có ý nghĩa hoặc nơi đó không thực hiện được. Hãy biến nó thành hệ thống bảo mật được nâng cấp, công cụ huấn luyện được nâng cấp, không gian bán lẻ được cải tiến hay chiến lược quảng cáo riêng biệt hơn nữa. Con đường cuối cùng sẽ cho bạn thấy nơi mà đáng cho bạn chi tiền, đáng đầu tư cho kinh nghiệm thương hiệu.

Khi toàn bộ tổ chức có thể nhìn thấy cuộc hành trình của khách hàng.

Đó là lúc toàn bộ thương hiệu được chia thành nhiều bộ phận chức năng, nuôi dưỡng thông tin liên lạc và cuối cùng là cho phép phân phối điều tốt hơn, gắn chặt hơn với kinh nghiệm thương hiệu.

Với các nguồn lực có sẵn, việc quản lý thương hiệu khéo léo sẽ không còn xem mọi khách hàng đều tương tác với thương hiệu theo cùng một cách giống nhau mà là phân bố các nguồn lực một cách có hiệu quả và đạt năng suất cao để tạo ra trải nghiệm của khách hàng và của công ty

Bản đồ về cuộc hành trình của khách hàng được vẽ tốt sẽ giúp bạn bước xuống phố nơi có nhiều điểm dừng chân dọc theo con đường giống như mong đợi của bạn, có thể tốt hơn mong đợi với việc không có điểm nào làm bạn thất vọng. Đối với thương hiệu, để nằm trên bản đồ, thì điều quan trọng là phải đặt khách hàng của bạn lên đó đầu tiên. Bằng cách hiểu được hành trình thực sự của khách hàng, không phải tưởng tượng, bạn sẽ khám phá ra nhiều điều về xây dựng thương hiệu như thế nào và ở đâu.

Share Button

Thay đổi thiết kế logo tái tạo sức sống mới

Là một doanh nghiệp đang hoạt động, thì chắc chắn bạn đã có Logo hoặc có doanh nghiệp còn sở hữu một vài mẫu thiết kế logo. Nhưng không hẳn là lúc nào những thiết kế logo ấy cũng thực hiện tốt nhiệm vụ của chúng đó là giúp bạn xây dựng một hình ảnh thương hiệu và hỗ trợ tốt các mục tiêu chiến lược của bạn.

Tầm quan trọng của mẫu thiết kế logo thương hiệu chỉ đứng sau tên thương hiệu trong danh sách những hạng mục bạn không nên thay đổi, tuy nhiên trong trường hợp bạn chắc chắn rằng mẫu logo mà bạn đang dùng gây bất lợi cho chiến lược phát triển dài hạn của doanh nghiệp.

Và việc để thay đổi hình ảnh của Logo bạn nên phân tích kỹ lưỡng tình hình thực tế trên thị trường.

Việc thay đổi logo sẽ là một tín hiệu thông báo cho thị trường một tinh thần mới của thương hiệu, do vậy việc điều chỉnh logo có thể giúp bạn chuyển tải một thông điệp ấn tượng, tuy nhiên nếu sự thay đổi đó không có một lý do hợp lý thì mọi nỗ lực làm mới logo sẽ trở lên vô nghĩa.

Dù vậy vẫn có cách để thay đổi hình ảnh logo mà không làm mất đi những giá trị cốt lõi của thương hiệu, đó là việc bạn biến đổi theo hướng phát triển thay vì làm mới hoàn toàn.

Có thể thay đổi hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nên khó có thể thiết lập nên một bộ nguyên tắc cố định.

Lấy một dẫn chứng điển hình:

Coca Cola một ông lớn trong lĩnh vực kinh doanh nước giải khát có ga, và chúng ta thấy Logo Coca Ccola được thay đổi theo chu kì thời gian khá dài với rất nhiều mẫu thay đổi khác nhau

Nhưng theo nhận định tổng quát thì logo Coca Cola được thay đổi theo xu hướng phát triển từ phiên bản gốc, nó thay đổi về yếu tố thẩm mỹ nhưng vẫn giữ được yếu tố đặc trưng cốt lõi chính vì vậy mà người tiêu dùng vẫn nhận ra được đó là Coca Cola

Thay đổi theo xu hướng phát triển từ từ nên Coca Cola không gây cảm giác bất ngờ, lạ lẫm đối với người tiêu dùng.

Còn với phương án thay đổi làm mới hoàn toàn sẽ có rất nhiều yếu tố mà khi xây dựng, doanh nghiệp đó phải chú ý như vấn đề về cảm nhận của khách hàng,…

Và chắc chắn rằng để xây dựng lại một logo mới hoàn toàn thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó sẽ phải bỏ những khoản đầu tư cho chiến lược quảng bá giới thiệu logo mới đến thị trường tiêu dùng.

Điều quan trọng ở đây mà bạn nên ghi nhớ là cần phải cân nhắc thật kĩ khi muốn thay đổi hình ảnh của thiết kế logo để có được một sự thống nhất giữa logo với chiến lược phát triển của doanh nghiệp.

Share Button

Bản sắc nhận diện thương hiệu cốt lỏi

Bên cạnh mẫu logo doanh nghiệp còn sở hữu một vài yếu tố hình ảnh quan trọng khác để làm nên thành công cho “ Bản sắc nhận diện thương hiệu cốt lõi “ đó là yếu tố về màu sắc nhận diện thương hiệu.

Một thương hiệu thành công thì yếu tố màu sắc nhận diện rất quan trọng, nó tạo sự nổi bật, đọng lại ấn tượng trong tâm trí khách hàng.

Những yếu tố cơ bản để cấu thành hê thống “Màu sắc nhận diện” tốt:

1. Về mặt truyền tải thông điệp cần ghi nhớ hai yếu tố khi lựa chọn màu sắc cho thương hiệu.

Yếu tố thứ nhất chính là đặc tính cảm xúc của từng màu sắc

Ví dụ:

Màu trắng thanh khiết (thí dụ áo cưới màu trắng)

Màu đen sang trọng (thí dụ nhãn chai rượu Johnnie Walker Black Label)

Màu xanh dương là dẫn đầu, lãnh đạo

Màu đỏ tía là vương giả, quý tộc

Màu xanh lá cây là màu của môi trường và sức khoẻ…

Yếu tố truyền thông thứ 2 mà bạn cần cân nhắc, là màu sắc thương hiệu có khả năng giúp bạn tạo sự khác biệt cho thương hiệu.

Có rất nhiều màu sắc để bạn có thể lựa chọn cho thương hiệu, những màu sắc mạnh như màu đỏ, xanh dương… tuy nhiên những màu này thường đã được sử dụng khá nhiều trên thế giới, để tạo cho mình một cá tính riêng bạn có thể chọn những cặp màu có tính hỗ trợ tốt cho nhau hay phương pháp sử dụng nhiều màu sắc và kể cả là chỉ sử dụng đen và trắng… cái đó còn tuỳ thuộc vào đặc tính riêng của thương hiệu, để bạn có thể chọn cho mình một hệ thống màu sắc nhận diện phù hợp nhằm thực thi tốt về yêu cầu nhận diện.

2. Về mặt chức năng

Cần cân nhắc về tỉ lệ sử dụng màu sắc sao cho phù hợp để tạo được ấn tượng tốt, cân nhắc trên hệ thống phông nền truyền thông lớn cũng như những chi tiết nhỏ trong văn bản … để tạo điểm nhấn cho yếu tố cần nổi bật chính

Nếu khéo léo lựa chọn màu sắc cho thương hiệu, thì lợi ích mang lại là rất lớn. Giả sử tôi hỏi bạn màu thương hiệu của Coca Cola là gì, chắc hẳn bạn đã có ngay câu trả lời. Bạn thử nghĩ xem sự nhận biết màu sắc rõ ràng như vậy đã mang lại những giá trị to lớn như thế nào cho thương hiệu Coca Cola.

Chúng ta đều biết rằng, hình ảnh của thương hiệu góp phần vào tài sản vô hình trên bản cân đối ngân sách, do vậy chắc chắn rằng, với câu trả lời bạn vừa nghĩ đến trong đầu, nhân lên với con số hàng triệu người uống Coca Cola trên toàn thế giới, điều đó tạo cho màu đỏ tươi của Coca Cola một giá trị rất lớn. Vậy thương hiệu nổi tiếng trị giá hàng tỷ đô la này đã phải tiêu tốn bao nhiêu tiền để đạt được sự nhận biết về màu đỏ như vậy?

Thực tế câu trả lời là rất ít. Đúng là chúng ta trông thấy rất nhiều mực in và sơn màu đỏ sử dụng trên tất cả các vật dụng của Coca Cola, tuy nhiên nếu như họ không dùng màu đỏ thì họ cũng sẽ dùng một màu nào đó khác và chi phí sử dụng màu sắc ấy cũng không có sự khác biệt quá lớn.
Nói cách khác, thương hiệu có thể tạo được sự nhận biết rộng về màu sắc chỉ đơn giản bằng cách quản lý việc sử dụng màu sắc sao cho hiệu quả. Đây quả là một món hời! Sử dụng khéo léo màu sắc của thương hiệu, chính là một trong những vũ khí đơn giản và kinh tế nhất trong “cuộc chiến” giành sự nhận biết thương hiệu.

Share Button

Cách nhận định hình ảnh khi chỉnh màu

+ Thời Trang

Làm việc cẩn thận với màu trắng và màu đen trên hàng vải bởi vì rất khó để duy trì những chi tiết cấu trúc và định rõ vùng sậm và sáng trên ảnh. Cẩn thận không làm sắc nét quá độ hay thay đổi cấu trúc sẽ không thấy như thật. Tỷ lệ quá cao của màu vàng có thể làm cho màu trắng trông đục. Trị số Cyan quá thấp thì sẽ tạo cho màu đỏ rực rỡ, trị số màu vàng thấp sẽ làm màu xanh dương sáng chói. Bạn có thể giữ nguyên cấu trúc như vậy để so ánh với những màu thực và những vật liệu với màu trên màn hình

+ Người (chân dung)

Phải chỉ định sắc nét trên từng búi tóc theo khả năng có thể thực hiện được. Răng phải trắng thay vì vàng đục. Với màu da CMYK (c=20, m-45, y=50, k=0), RGB (R=201, G=154, B=125). Màu da bạch nga (C=40, Y=45, K=30), RGB (R=123, G= 106, B=93)

+ Thức ăn

Một điều là khó có thể trong ngon miệng với những màu sắc không đúng. Vì dụ màu đỏ của cà chua rực rỡ có thể trông ngon miệng, như thịt đỏ sẽ biểu hiện miếng thịt sống, màu sắc trên trái cây phải thể hiện đúng, nếu có sai lệch thì trái cây đó trở thành trái bị bệnh.

+ Khung cảnh ngoài trời

Những màu xanh green, màu đỏ hay xanh dương hiện ta có thể sử dụng công cụ Sponge trong Photoshop. Dùng màu đen để tạo ra màu xanh lá cây đậm thay vì magenta và với độ Saturation thấp. Khi tạo một bầu trời, sự tương quan giữa Cyan và màu magenta sẽ quyết định cho vùng bóng của bầu trời đang tạo (nếu thêm nhiều màu Magenta sẽ làm cho màu xanh dương sáng rực qua màu sậm)

+ Cảnh tuyết

Tuyết nên có màu trắng tinh, tập trung các chi tiết vào vùng sáng, tránh làm những chi tiết trên những vùng sậm hơn là tăng cường màu trắng

Phương Pháp Khi Chỉnh Màu

–      Khi đã nắm vững những căn bản và sẵn sàng cho việc chỉnh màu, bước đầu tiên là nên chỉnh tất cả các dải tone màu trên ảnh. Sau đó chỉnh những vùng chì đỉnh. Nên dựa vào ảnh gốc và đối chiếu màn hình

–      Dùng thông số Eyedropper của Photoshop để kiểm định thông số màu CMYK hay RGB

–      Dùng những lệnh chỉnh màu trong Image > Adjustment

–      Quan sát kênh khi chỉnh màu

Điều chỉnh Color Setting

Công dụng chính yếu của hộp này là cung cấp những thông tin về mực và giấy của máy tin sẽ được sử dụng cho Photoshop. Những thông tin này sử dụng màu CMYK và thích hợp với công việc in ấn. Khi thay đổi chỉ định trong hộp, chỉ có hình ảnh CMK bị ảnh hưởng trên màn hình còn RGB thì không

Bảng này chính là chọn lựa nhiều loại máy in và mực in trong Color Setting

–      Lệnh Color Setting hiển thị printing Setup

–      Ink Color: có nhiều chế độ chọn lựa mực in và giấy SWOP (Coated) (Specification Wed Offset Proofing). Khi chọn Option này có nghĩa là chọn những loại mực và giấy do tùy chọn này quy định. Lưu ý những lựa chọn khác SWOP (Newsprin), QMS, NEC và Techtronix cũng khá tốt như máy copy Laser hiệu Canon.

Share Button

Sự quan trọng giữa quá trình trước in và quá trình in

Tram

Tram là thành tựu quan trọng nhất trong việc phục chế các hình ảnh, bài mẫu màu, mà trong đó các hình ảnh và bài mẫu có độ đậm nhạt về màu sắc khác nhau. Tram hiểu theo ý nghĩa thực tế đó là những điểm cực nhỏ mang các thông số màu của bài mẫu và được tái tạo lại trên tờ in, việc quản lý các thông số về màu sắc cũng như các độ đậm nhạt của bài mẫu. Cùng với việc phát minh ra phương pháp in bốn màu chuẩn càng làm cho việc tái tạo lại các bài mẫu và hình ảnh một cách chính xác hơn. Các bản in thể hiện được sự mềm mại của tầng thứ, sự dịu dàng của các sắc thái màu, và sự tinh tế của các chi tiết.

Trước đâ khi các hệ thống điện tử và tia laser ra đời, người ta sử dụng Tram Distant (còn gọi là tram kính, Tram khoảng cách) Tram Contact (Tram tiếp xúc) để phục chế các hình ảnh, sau đó nhờ thành tựu của các ngành công nghiệp điện tử nhất là ngành công nghiệp thông tin được áp dụng vào ngành in ấn mà trong đó Tram điện tử là một thành tựu.

Tram điện tử:

Tram điện tử là thành tựu của ngành công nghiệp in hiện đại, nó có nhiều ưu điểm vượt trội so  với các loại tram cổ điển. Tuy nhiên tram điện tử cũng chỉ là bước phát triển tiếp theo của quá trình tram hóa hình ảnh, cho nên cơ sở lý thuyết vẩn dựa vào tram đã có trước đó.

Ở đây chỉ nêu lên ba thành phần chủ yếu trong cơ sở lý thuyết về tram có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo và xử lý với tram điện tử.

–          Góc lệch tram: Góc lệch tram chỉ định nghĩa cho các loại tram có phần tử phân bố đều đặn góc lệch của tram được định nghĩa bằng độ lệch của cấu trúc so với góc vuông. Đơn vị để đo độ lệch là “độ” đó là góc lệch tuyệt đối của tram. Khi in chồng các tram sẽ có góc lệch tương đối với nhau. (góc lệch theo chiều kim đồng hồ). Trong quá trình in chồng màu (in offset) góc lệch tram (hay còn gọi là góc xoay tram) là một yếu tố rất quan trọng trong việc tái tạo màu sắc trên tờ in thường trong khi xuất phim người ta sẽ quy định góc lệch tram cho từng màu in.

–          Hiện tượng more: Khi chúng ta in chồng màu có thể có những đường sọc hay từng nhóm điểm xuất hiện. Hiện tượng này gọi là hiện tượng more. Nguyên nhân của hiện tượng more là do vị trí tương đối của các hạt tram khác nhau dẫn đến sự tổng hợp màu khác nhau.

–          Mật độ tram: Mật độ tram (Screen frequency) được đo bằng số đường trên đơn vị chiều dài (Lpi). Những đường này tạo thành lưới tram, trên lưới tram này gồm những hạt tram cả diện tích thay đổi được tạo thành từ điểm ghi của mấy ghi phim. Mật độ tram càng lớn thì hình ảnh phục chế được càng chi tiết. Tuy nhiên còn tùy thuộc vào phương pháp in và loại ấn phẩm. Để tái tạo được một ảnh chất lượng có mật độ tram thích hợp còn tùy thuộc vào độ phân giải của ảnh và độ phân giải của máy ghi phim.

Nguyên tắc tái tạo màu trên bài in thông qua tram:

Việc tái tạo lại các loại màu sắc trên một bài in trong các phương pháp in hiện nay đều thông qua đối tượng chính là tram. Nguyên lý thực hiện việc tái tạo màu và thông qua diện tích các điểm tram và góc xoay giữ các điểm tram này.

Ở đây chúng ta không nên hiểu lầm một khái niệm là khi in chồng màu thì các hạ tram sẽ nằm chồng khie1t lên nhau, vì nếu theo đúng nguyên tác như vậy thì sau khi in xong màu đen chúng ta sẽ chỉ nhận được một bài in là toàn bộ màu đen. Khi in chồng màu các hạt tram sẽ dung nguyên tắc chồng màu, nằm chồng lên nhau nhưng chúng sẽ xoay theo một góc quy định nào đó tính theo góc vuông.

Ví dụ: Màu Cyan góc xoay tram là 15 độ so với góc vuông, hạt tram màu Magenta: 75 độ, hạ tram màu Yellow là 0-90 độ, hạt tram màu Black là 45 độ.

Điều này cho phép khi chúng ta nhìn lên tổng thể bài in các màu sắc sẽ hòa trộn lại với nhau và tạo cho chúng ta cảm giác về sự thể hiện màu sắc. Đây là nguyên tắc tái tạo màu trên một bài in.

Nhưng chúng ta cũng không thể định mật độ tram một cách tùy ý mà tùy thuộc vào vật liệu in, phương pháp in cũng như tùy thuộc mục đích in của sản phẩm đó mà chúng ta định mật độ lưới tram một cách thích hợp.

Ví dụ:

+ Mật độ tram cho các sản phẩm in trên các loại báo thông thường (loại báo in trên giấy nhám, nhiều bụi) là từ 65 đến 90 LPI.

+ Mật độ tram cho sản phẩm in trên các loại giấy nhám không tráng phấn thường là 80 đến 120 LPI.

+ Mật độ lưới tram cho sản phẩm in trên các loại giấy láng có tráng phấn thường là 150 đến 175 LPI.

 Xuất phim:

Xuất phim là công đoạn cuối cùng của quá trình chế bản trước khi in. Tùy thuộc vào số màu in của bài mẫu mà ta xuất ra bao nhiêu tờ phim, thông thường khi in bốn màu cơ bản khi xuất phim ta sẽ nhận được bốn tờ phim, trong trường hợp phải in them màu thứ năm thì ta phải xuất thêm một phim nữa, khi in màu pha thì ta có thể giảm bớt hoặc xuất thêm phim nữa.

File khi ta đem đi xuất phim thường là các file có đuôi dạng: .PSD, .EPS hay .TIFF đây là các dạng file thường cho ra ảnh tốt nhất. Trong các chương trình đồ họa trước khi xuất phim ta cần phải kiểm tra các nội dung cần in vì khi xuất ra thành phim ta không thể sửa chữa được. Kiểm tra hệ thống xuất phim tự động. Cần ghi cụ thể vào phiếu sản xuất của cơ sở xuất phim: Kích thước xuất phim, mật độ hạt tram là bao nhiêu, xuất bao nhiêu màu, ghi cụ thể file xuất phim.

Share Button

Bản kiểm tra nhận diện thương hiệu

Bản kiểm tra này sẽ cho bạn biết gì về các tiêu chuẩn và hệ thống nhận diện thương hiệu của bạn?

  1. Như St. James Associates nói, một số thương hiệu “có hình mà không có hồn”. Đầu tiên và quan trọng nhất cuả thương hiệu là nó có hồn hay không?
  2. Tên thương hiệu có phù hợp không? Nó có giúp người ta phân biệt thương hiệu hay đơn thuần chỉ mô tả sản phẩm hoặc dịch vụ?
  3. Tên thương hiệu có giúp khách hàng nhận ra lợi ích cốt lõi phân biệt với các thương hiệu khác, nhưng không quá hẹp khiến thương hiệu khó được mở rộng qua các lợi ích khác trong tương lai?
  4. Khách hàng có thích thương hiệu của bạn không? Nó có dễ nhớ không?
  5. Bạn có tránh các tên thương hiệu con không?
  6. Bạn có tiêu chuẩn nhận dạng thương hiệu đầy đủ và hệ thống giúp sử dụng tất cả thành phần cuả nhận dạng thương hiệu cuả bạn?
  7. Các tiêu chuẩn và hệ thống này có đang hoạt động không?
  8. Các tiêu chuẩn và hệ thống này có được phổ biến thông qua cẩm nang, CD, hoặc qua mạng nội bộ không?
  9. Các bộ phận và các thương hiệu con có tuân theo các tiêu chuẩn này không? Có ngoại lệ nào không?
  10. Tối thiểu, hệ thống cuả bạn có gồm các tiêu chuẩn nhận dạng hình ảnh, màu sắc, ký tự, màu nền, độ tương phản, bố cục, kích thước, quy tắc sử dụng, và trường hợp không được sử dụng?
  11. Logo cuả bạn có hình nằm ngang không? Cách sắp xếp theo chiều ngang này tạo nên hiệu ứng hình ảnh cao nhất và là hình thức logo hữu dụng trong môi trường bán lẻ.
  12. Hệ thống cuả bạn có áp dụng toàn cầu? Nghĩa của các từ, màu sắc, và ký hiệu ở các nước khác nhau sẽ khác nhau.
  13. Hệ thống cuả bạn có bao gồm các hình dạng, màu sắc, kiểu chữ, hay giọng nói đặc trưng không?
  14. Thương hiệu của bạn có màu sắc khác biệt so với đối thủ cạnh tranh không?
  15. Hệ thống của bạn có bao gồm slogan không?
  16. Hệ thống của bạn có bao gồm âm thanh hay giai điệu không?
  17. Hệ thống cuả bạn có sử dụng trong môi trường đa phương tiện được không?
  18. Hệ thống có bao gồm trường hợp đồng – thương hiệu, đồng – marketing, hợp tác chiến lược, và tài trợ không?
  19. Có các phương pháp giúp hoà hợp thương hiệu con với thương hiệu cuả công ty mẹ?
  20. Có phương pháp và quy định để dùng thương hiệu công ty mẹ để hỗ trợ thương hiệu con không?
  21. Mọi người có đồng quan điểm về tên gọi, biểu tượng, màu sắc, bố cục, âm thanh, …, được áp dụng trong các hoàn cảnh không? Thương hiệu con và các dòng sản phẩm có đại diện cho thương hiệu mẹ và nhận diện cuả nó không?
  22. Tại mỗi điểm tiếp xúc với khách hàng (quảng cáo, môi trường bán lẻ, đóng gói,….), bạn có cân bằng trọng tâm giữa thương hiệu mẹ và thương hiệu con? Bạn có thành phần nào sẽ đi với thương hiệu mẹ và thành phần nào sẽ đi với thương hiệu con?
  23. Hệ thống có tạo ra khả năng nhớ thương hiệu và nhận biết thương hiệu trong các hoàn cảnh khác nhau không?
  24. Hệ thống có hoạt động với tất cả các ứng dụng không?
  25. Hệ thống có linh hoạt để ứng phó với tình huống phức tạp không?
  26. Hệ thống có áp dụng nội bộ (memo, bản tin nội bộ, báo chí nội bộ, screen saver,…) không?

27. Bạn có tham khảo ý kiến luật sư khi thiết kế sản phẩm mới hay thương hiệu mới để tăng khả năng bảo vệ trước pháp luật?

28. Bạn có kế hoạch liên tục quản lý và bảo vệ thương hiệu trước khả năng bị loãng, bị sao chép, hoặc bị nhầm lẫn không?

Biên dịch: Nguyễn Thanh Hồng Ân – DNA Branding – www.dna.com.vn

Brand Strategy Insider

Share Button

Hãy thử tưởng tượng thương hiệu như một con người

Hầu hết các thương hiệu hàng đầu trên thế giới đều dành phần lớn thời gian để đầu tư vào việc tạo dựng phần “hồn” cho mình. Một thương hiệu có sức sống sẽ tạo nên sức hấp dẫn trong tâm trí khách hàng.

Linh hồn thương hiệu

Khách hàng thường đánh giá về thương hiệu sản phẩm và công ty như một con người. Họ thường phàn nàn: “Công ty X này không thân thiện với khách hàng“, hay ” tôi thấy khó chịu khi sử dụng dịch vụ của X”, “Tôi biết những nhân viên của X không nói đúng sự thật về sản phẩm”, hay “Nó không thích hợp với tôi”.Nhận thức của khách hàng thường bị tác động bởi tính cách của họ. Cho rằng đó là sự thật, nhưng làm cách nào các công ty có thể tạo nên linh hồn cho sản phẩm hay cho bản thân mình? Câu trả lời nằm ở sự lựa chọn và ứng dụng các giá trị tính cách và đặc điểm của một con người vào thương hiệu.

Hãy tưởng tượng một thương hiệu như một con người. Cô ta khoảng 28 tuổi, khá đẹp, thân hình nhỏ nhắn và dễ gần. Cô ta cũng tương tự như một sản phẩm. Khi bạn quan tâm và bắt đầu tìm hiểu về cô ta, mối quan hệ ngày càng gắn bó hơn, và bạn dần có thiện cảm với cô ấy, ưa chuộng công ty của cô ấy, và đôi lúc sẽ nhớ cô ấy da diết nếu cô ấy không ở bên bạn. Cô ta đem lại cảm giác vui vẻ cho bạn và bạn ngày càng bị cuốn hút vào những giá trị và tính cách của cô ta. Đó cũng là những giá trị cảm tính tương tự như sự liên tưởng mà khách hàng gắn kết với một linh hồn thương hiệu. Con người dễ đồng cảm với con người. Vì vậy, nếu một thương hiệu có được linh hồn cho mình, nó sẽ dễ dàng lôi cuốn người tiêu dùng hơn. Thương hiệu phát triển sẽ thúc đẩy mối quan hệ ngày càng gắn kết hơn, và những giá trị cảm xúc đã dần tạo nên lòng trung thành thương hiệu. Linh hồn thương hiệu là cốt lõi của những giá trị – niềm tin và sự trải nghiệm trong lòng khách hàng.

Giá trị và đặc điểm của một linh hồn thương hiệu

Tính cách con người được quyết định phần lớn thông qua những giá trị và niềm tin họ có, và các đặc điểm cá nhân của họ. Một ví dụ của giá trị và niềm tin là sự chân thật. Hầu hết mọi người đều tin rằng sự chân thật là tất cả những điều họ nói và làm. Một ví dụ khác là sự tự tin. Nó không hẳn là niềm tin, mà chính xác là một hành vi. Tất nhiên, có rất nhiều giá trị/niềm tin và đặc điểm mà một con người có thể có, nhưng có một số đặc biệt đáng yêu! Những giá trị và đặc điểm gần gũi chắc chắn sẽ lôi cuốn mọi người hơn. Một vài trong số đó là: sự tin cậy, sự trung thực, tính thân thiện, sự quan tâm, tính vui vẻ và dịu dàng.

Có hơn 200 từ để mô tả những đặc điểm con người, và tất cả đều có thể tích hợp vào một thương hiệu. Một ví dụ, để làm sáng tỏ yếu tố tính cách con người qua đó có thể tác động và đo lường linh hồn thương hiệu, đã có các cuộc điều tra khách hàng để nghiên cứu về cảm nhận của họ về thương hiệu của 2 công ty A và B. Khi hỏi người tiêu dùng :”Nếu 2 công ty A và B là 2 con người, làm cách nào bạn có thể mô tả họ?”

Câu trả lời là:

Công ty A:
+ Phức tạp
+ Kiêu ngạo
+ Có năng lực
+ Tập trung
+ Không thân mật
+ Không hấp dẫn

Công ty B:
+ Đơn giản
+ Hiện đại
+ Hữu ích
+ Quan tâm
+ Dễ tiếp cận
+ Hấp dẫn

2 công ty đang là đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong một ngành công nghiệp dịch vụ. Nếu được yêu cầu lựa chọn 1 trong 2 công ty này trở thành bạn của mình, bạn sẽ chọn công ty B, như 95% người được phỏng vấn khác. Không có gì ngạc nhiên vì dịch vụ của công ty B đã đem lại sự trải nghiệm cho khách hàng tốt hơn so với A, và hình ảnh thương hiệu của B sẽ phải tốt hơn so với A.

Một điểm khác nữa trong bản nghiên cứu cũng thú vị không kém đó là con người có xu hướng ưa thích một thương hiệu thích hợp với lẽ sống của họ. Mọi người đều có một cái nhìn về bản thân và họ cũng mong muốn được xem trọng như vậy. Và họ ưu tiên hơn những tính cách phù hợp với họ, hay những tính cách mà họ tôn trọng. Do đó, việc tạo dựng một thương hiệu với những tính cách phù hợp với đa số khách hàng mục tiêu là một chiến lược rất hiệu quả. Cá tính thương hiệu càng tiếp cận với những tính cách khách hàng (hay những tính cách mà họ tôn trọng hay khâm phục), nó sẽ càng tạo được mong muốn lựa chọn thương hiệu đó, và lòng trung thành thương hiệu sẽ càng được củng cố thêm.
Tạo lập linh hồn thương hiệu

Cho dù một thương hiệu là một sản phẩm hay một công ty, thì công ty đó phải quyết định đâu là cá tính mà thương hiệu phải có. Có rất nhiều cách để tạo nên cá tính thương hiệu. Một phương thức hiệu quả là xây dựng cá tính thương hiệu càng gần gũi với tính cách khách hàng càng tốt. Qui trình bao gồm:

Nhận diện khách hàng mục tiêu
– Tìm ra nhu cầu, mong muốn và sở thích của họ
– Mô tả chân dung tính cách của họ
– Tạo lập một thương hiệu gần gũi với tính cách đó

Một trường hợp điển hình của việc tạo lập tính cách thương hiệu là Levi Strauss, một trong số các công ty rất kĩ lưỡng trong việc nghiên cứu chân dung khách hàng mục tiêu của mình. Qua đó Levi đã xây dựng cho mình những cá tính nổi bật sau:
– Nguyên thủy
– Nam tính
– Gợi cảm
– Trẻ trung
– Nổi loạn
– Lập dị
– Tự do
– Kiểu Mỹ

Những tính cách liên quan đến thương hiệu của quần Jean Levi s 501 cũng tương tự:
– Lãng mạn
– Quyến rũ – gợi tình
– Nổi loạn
– Can đảm
– Khéo léo
– Độc lập
– Muốn được tôn trọng

Cả hai chân dung khách hàng mà Levis hướng đến đều là những giá trị cảm nhận sâu xa trong tâm trí con người – tác động vào giác quan và cảm giác của họ. Việc định hình linh hồn thương hiệu đã tiến gần và củng cố những giá trị hành vi và nguyện vọng của khách hàng. Việc tiếp cận đã đem lại cho thương hiệu ý tưởng tuyệt vời – tạo nên một ngách thị trường mới, đem lại thành công tiêu biểu, mà như Levis là một điển hình.

(Theo Ngọc Quang – Lantabrand)

Share Button

Những quan điểm sai về Thương hiệu

Marketing, một trong những phương thức quản lý tiên tiến của con người trong thế kỷ hai mươi, đang được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Một trong số các trường phái tiếp thị phát huy hiệu quả cao đó là Brand Marketing (Tiếp thị Thương hiệu) được các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu sử dụng thành công tạo ra những lợi thế phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Dựa trên lý thuyết tiếp thị thương hiệu và kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi xin cung cấp một số nhận định và phương pháp giúp độc giả có cái nhìn chuẩn xác hơn về thương hiệu phân biệt những sự khác nhau rất tinh tế giữa
tiếp thị và tiếp thị thương hiệu.

Một: Thương hiệu chỉ là một bộ phận của Sản phẩm?

Có rất nhiều định nghĩa về Thương hiệu (Brand). Trong phạm vi bài viết này, chúng ta không tranh luận về các định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên điều cần thiết cho mọi người và cho các nhà doanh nghiệp đó là cần xem thương hiệu như một thực thể bao trùm, một tập hợp mẹ mà trong đó sản phẩm là một bộ phận cấu thành.

Trong qua trình nghiên cứu và thực tiễn, chúng tôi có đúc kết một định nghĩa mới cho sản phẩm: “sản phẩm là một tập hợp các lợi ích”, tập hợp này bao gồm các “lợi ích lý tính và các “lợi ích cảm tính”, hay nói một cách dễ hiểu hơn là “các lợi ích trực tiếp” và “lợi ích gián tiếp”.

Gọi là lợi ích gián tiếp thay cho khái niệm lợi ích cảm tính (emotional benefits) là không chính xác lắm. Ví dụ khi chúng ta mua một sản phẩm là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì phần lợi ích cảm tính sẽ được thụ hưởng trước, đó là cảm giác an toàn (nấc nhu cầu thứ 2 theo Maslow) còn lợi ích lý tính (rational benefits) tức giá trị bằng tiền bằng của hợp đồng sẽ được thụ hưởng sau vào lúc kết thúc hợp đồng bảo hiểm.

Còn thương hiệu bao trùm tất cả các lợi ích sản phẩm nói trên đồng thời còn có cả hệ thống nhận diện và hình ảnh. Hay nói đơn giản, Thương hiệu là sự cam kết về chất lượng và sự phân biệt chất lượng khác nhau giữa các sản phẩm trong quá trình cạnh tranh.

Chính vì thế mà một trong những thuộc tính cơ bản của thương hiệu là “sự khác biệt”, thuộc tính này được cụ thể hóa trong quản trị bằng các giải pháp phân khúc & định vị. Trong khi về mặt lý tính, chức năng hay vật chất thì các sản phẩm có thể vẫn giống nhau.

Kết luận: Thương hiệu không phải là một bộ phận của sản phẩm mà là thực thể bao trùm cả sản phẩm cộng với các nhân tố tạo ra sự khác biệt được công nhận.


Hai: Thương hiệu chỉ là những lời Quảng cáo bóng bẩy?

Khái niệm Quảng cáo hình thành trong thời đại phát triển các phương tiện truyền thông của thế kỷ hai mươi. Từ radio, đến truyền hình, điện thoại, và gần đây là internet và các phương tiện tích hợp. Quảng cáo là sự chuyển tải thông điệp của sản phẩm và thương hiệu qua các phương tiện (media) thích hợp và hiệu quả nhắm đến công chúng và khách hàng. Vì vậy quảng cáo không liên quan gì đến bản chất định nghĩa thương hiệu. Bên trong một thương hiệu đích thực phải có một sản phẩm đích thực dành cho một nhóm khách hàng cụ thể. Không có thương hiệu mạnh nào mà không có sản phẩm tốt. Ngay cả các thương hiệu chứng nhận (certificating brand) như “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” hay “Kỷ lục Guiness” sản phẩm của nó là quy trình bình chọn nghiêm túc và minh bạch, đó chính là sản phẩm tốt.

Những lời quảng cáo bóng bẩy có thể thu hút công chúng đến với thương hiệu trong lần đầu tiên, hiệu quả của nó là tạo một số lượng khách hàng dùng thử (trial user).
Tuy nhiên nếu sản phẩm không tốt thì khách hàng sẽ không quay lại lần thứ hai, và do đó sẽ không có repeated user (khách hàng thường xuyên). Những người này sẽ đi tìm một thương hiệu khác đáng tin cậy hơn hoặc quay lại những thương hiệu sản phẩm đã chọn ban đầu.

Quảng cáo hay tạo ra một lực hút, hoặc lực kéo rất lớn đối với thương hiệu tạo ra 51% cơ hội thành công cho doanh nghiệp. Phần còn lại 49% là những nỗ lực phân phối và thúc đẩy bán hàng làm đối đa hóa khả năng thành công của Thương hiệu, mang lại doanh thu và lợi nhuận bền vững.

Kết luận: Không có thương hiệu mạnh mà bên trong nó không có sản phẩm tốt.

Ba: Thương hiệu được bảo vệ chủ yếu bởi hệ thống pháp lý?

Hệ thống pháp lý quốc gia và các công ước quốc tế xác lập quyền bảo vệ chính đáng và lâu dài cho thương hiệu. Tuy nhiên đó chưa phải là cách thức bảo vệ thương hiệu hiệu quả nhất. Thương hiệu sau khi hình thành và được pháp luật bảo hộ, thực chất còn phải đi một chặng đường dài và rộng khắp, mới đến điểm đích của nó, là đến với hàng triệu thậm chí hàng tỷ khách hàng và người tiêu dùng.

Như vậy người tiêu dùng là người bảo vệ thương hiệu hữu hiệu nhất. Đối với các thương hiệu rơi vào tình huống bị làm giả sản phẩm hay làm nhái nhãn hiệu. Bên cạnh những nỗ lực hỗ trợ của các cơ quan chức năng tiến hành những biện bảo vệ cần thiết về mặt pháp lý, doanh nghiệp cần có những quảng bá cụ thể giúp người tiêu dùng phân biệt sản phẩm thật với sản phẩm giả, phân biệt nhãn hiệu chính hãng và nhãn hiệu giả mạo. Một thương hiệu được đầu tư nghiêm túc và có tên tuổi sẽ được pháp luật bảo hộ mạnh mẽ hơn một thương hiệu mờ nhạt và không chuyên nghiệp. Chẳng hạn khi doanh nghiệp chưa xây dựng một tiêu chí rõ ràng và nhất quán về hệ thống nhận diện thương hiệu (brand identity system), các cơ quan chức năng sẽ thiếu căn cứ và cơ sở pháp lý để phân biệt với những thương hiệu và sản phẩm giả mạo. Một hệ thống nhận diện thương hiệu đầy đủ phải bao gồm: thiết kế tên nhãn hiệu, thiết kế biểu trưng, logo, khẩu hiệu, chuẩn màu sắc, chuẩn kích thước và rất nhiều mẫu chuẩn và phương thức nhận diện khác. Như vậy những toan tính làm giả sẽ gặp khó khăn hơn và việc phân định thật hay giả cũng dễ dàng hơn.

Kết luận: Cách thức bảo vệ thương hiệu hiệu quả nhất là đầu tư xây dựng một thương hiệu mạnh và chuyên nghiệp.

Bốn: Thương hiệu chỉ là chiến lược kinh doanh ngắn hạn?

Áp lực của kinh doanh là lợi nhuận. Vấn đề ở đây là lợi nhuận trước mắt hay lợi nhuận thường xuyên. Nếu doanh nghiệp đặt kỳ vọng kiếm lời một lần, hay lợi nhuận trước mắt thì có lẽ không cần thiết phải xây dựng thương hiệu. Đó là tư duy của người đi buôn (trader) hay người làm gia công. Thương hiệu chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp xác định mục tiêu lợi nhuận thường xuyên, phát triển ổn định và bền vững. Thương hiệu chỉ phát huy tối đa vai trò của mình trong một môi trường cạnh tranh tốt.

Trước khi đặt ra những mục tiêu về doanh thu và lợi nhuận, cần thiết phải cụ thể hóa mục tiêu cho thương hiệu. Từ đó các giải pháp quản trị sẽ cụ thể và hiệu quả hơn.

Kết luận: Thương hiệu phát huy tối đa vai trò của nó trong chiến lược phát triển lâu dài và ổn định trong một môi trường cạnh tranh.


Năm: Chưa phân biệt giữa Tiếp thị và Tiếp thị Thương hiệu.

Tiếp thị là phương cách mang Sản phẩm đến với khách hàng. Tiếp thị Thương hiệu là phương cách mang Thương hiệu đến với người tiêu dùng. Tiếp thị Thương hiệu (brand marketing) là hệ thống quản trị được áp dụng tại các tập đoàn thương hiệu hàng đầu thế giới. Nhận thức của “tiếp thị thương hiệu” vì vậy có những sự khác biệt rất tinh tế so với khái niệm tiếp thị mà nhiều người vẫn hình dung.

Những sự khác biệt này xuất hiện từ nhận thức, tư duy, đến chiến lược và tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Chẳng hạn hầu hết các nhà quản trị có đầu óc marketing đều nói rằng “tiếp thị là bán cái khách hàng cần chứ không phải bán cái mình có”. Tuy nhiên trong thực tế quản trị thì nhà tiếp thị bị áp đặt sản phẩm đã được hình thành từ bộ phận kỹ thuật hay bộ phận R&D. Tiếp thị thương hiệu cho phép định nghĩa một thương hiệu và một sản phẩm trước khi hoặc song song với qúa trình nghiên cứu. Nhà tiếp thị được trao quyền lãnh đạo đối với nhóm nghiên cứu phát triển sản phẩm.

Một dẫn chứng khác là khái niệm “định vị sản phẩm” và “quảng bá sản phẩm”. Đây là những định nghĩa sai trong tiếp thị thương hiệu. “Định vị Thương hiệu” bao gồm 4 nhóm giải pháp bao gồm: định vị sản phẩm, định vị giá, định vị phân phối và định vị hình ảnh thương hiệu. Quảng bá sản phẩm không làm nêu bật sự khác biệt giữa một thương hiệu A với thương hiệu B trong cùng một dòng sản phẩm.

Một sự khác biệt nữa là Tiếp thị Thương hiệu nhắm đến một chuỗi các vòng đời sản phẩm nối tiếp nhau chứ không xét đến một vòng đời sản phẩm duy nhất.

Kết luận: Có rất nhiều sự khác biệt rất tinh tế giữa tiếp thị và tiếp thị thương hiệu.


Sáu: Thương hiệu chỉ là Trade-mark?

Có lẽ khái niệm trade-mark mở đầu cho nhận thức của con người đối với thương hiệu. Thực chất ở Trung Quốc những khái niệm tương tự như khái niệm trade-mark của phương Tây đã hình thành từ rất lâu. Bởi về bản chất thương hiệu là sự cam kết chất lượng ngay cả đối với những sản phẩm cùng loại. Thương hiệu là kết quả tất yếu của sự văn minh của loài người. Các quốc gia phát triển có tỷ lệ hàng hóa có thương hiệu cao hơn so với các quốc gia kém phát triển. Cạnh tranh phát triển giúp sản phẩm ngày càng phong phú và thương hiệu hình thành ở cấp độ cao hơn cấp độ trade-mark.

Một trong những khái niệm thể hiện cấp độ nhận thức cao đối với thương hiệu đó là khái niệm Love-mark của Kevin Roberts (CEO của Saatchi & Saatchi). Love-mark với quan điểm mới cho rằng Thương hiệu là hiện thân của các giá trị sản phẩm phục vụ không chỉ cho những nhu cầu vật chất, mà còn gắn với tình cảm và cảm nhận thẩm mỹ đối với thế giới sản phẩm. Trong quá trình hình thành hệ thống lý luận marketing và brand marketing. Nhận thức của chúng ta về thương hiệu hoàn thiện hơn từ lý tính đến cảm tính, từ sản phẩm đến thương hiệu và từ trade-mark đến love-mark.

Kết luận: Thương hiệu (brand) hình thành như một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển văn minh của con người.

Bảy: Khấu hao tài sản cho Thương hiệu?

Giá trị thương hiệu tỷ lệ thuận với số lượng người tiêu dùng mà nó chinh phục. Tài sản này chuyển hóa sang doanh số và lợi nhuận. Đầu tư cho thương hiệu là các khoản chi phí để nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm mới, thiết kế sáng tạo, các hoạt động truyền thông và hoạt hóa thương hiệu. Kết quả là một thương hiệu mạnh xác lập trong một số lượng ngày càng nhiều khách hàng và người tiêu dùng.

Các khoản chi nêu trên được hạch toán vào chi phí và giá thành trong tài khóa kinh doanh được cân đối với doanh số và lợi nhuận cùng kỳ. Tuy nhiên vào cuối kỳ hạch toán thì giá trị thương hiệu lại tăng cao hơn so với thời điểm ban đầu, cùng với doanh số gia tăng tạo ra một thứ lãi kép.

Trong trường hợp nhượng quyền, bên nhượng quyền thường phải đóng cho bên sở hữu thương hiệu một khỏan phí nhượng quyền (royalty), đồng thời các hoạt động hoạt hóa thương hiệu trong địa bàn được nhượng quyền lại giúp làm tăng sự xuất hiện của thương hiệu trong lòng công chúng, và như vậy cũng mang lại hiệu quả kép cho chủ thương hiệu.

Tài sản thương hiệu khác với các loại tài sản vật chất là không bị hao mòn, không bị giảm cấp, trái lại nếu biết sử dụng đúng cách có thể không ngừng làm tăng giá trị của thương hiệu.

Chẳng hạn nếu cho mượn hay cho thuê một thương hiệu để đối tác sử dụng vào những sản phẩm khác nhưng cùng nhóm khách hàng mục tiêu có thể mang lại hiệu quả kép không những tạo uy tín cho sản phẩm mới mà còn làm gia tăng giá trị của thương hiệu ban đầu.


Kết luận:
Tài sản Thương hiệu không cần phải khấu hao, nhưng phải biết sử dụng đúng cách.

Tám: Nhầm lẫn về Lực Đẩy và Lực Kéo

Tất cả các nỗ lực quản trị đều tạo ra hiệu quả Đẩy hoặc Kéo, hoặc cả hai. Một Thương hiệu mạnh có cả hai lực đẩy và lực kéo.

Lực Đẩy xác lập bằng một loạt những nỗ lực phân phối giúp thương hiệu sản phẩm có mặt tại tất cả mọi điểm tiếp xúc với người tiêu dùng tạo ra mức sẵn có sản phẩm (availability) cao nhất. Lực Kéo được hình thành bằng sự xác lập hình ảnh thương hiệu vào tâm trí và trái tim người tiêu dùng và được đo bởi các thông số nhận biết thương hiệu (brand awareness). Một thương hiệu mạnh sẽ được nhiều người biết đến và yêu mến; đồng thời luôn sẵn sàng có mặt ở tất cả những vị trí hay cách thức sẵn sàng nhất cho người tiêu dùng.

Trong thực tế có những thương hiệu được quảng bá tốt nhưng không được phân phối tốt và ngược lại có những thương hiệu được phân phối tốt nhưng người tiêu dùng chưa tin cậy. Chất lượng sản phẩm ở đây còn bao hàm cả hình thức và vẻ đẹp của thương hiệu thông qua tất cả những nỗ lực truyền thông và phân phối có liên quan.

Kết luận: Lực Đẩy tạo ra bởi nỗ lực Phân phối; Lực Kéo tạo ra bởi Quảng bá Thương hiệu đến với công chúng.

Chín: Lý thuyết Tiếp thị khác nhau cho những sản phẩm khác nhau?

Khác với tiếp thị thông thường không vượt qua những hình thái sản phẩm khác nhau. Brand Marketing vượt ra khỏi ranh giới định nghĩa sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng hay sản phẩm dịch vụ.

Khác biệt là giải pháp chứ không phải về lý thuyết và phương pháp luận.

Với tư duy vượt khỏi cách định nghĩa một sản phẩm hiện có. Chẳng hạn với tư duy xem thương hiệu là một chuỗi các vòng đời sản phẩm, người ta xây dựng hình thượng James Bond 007 thông qua một chuỗi phim hành động cùng chủ đề, mỗi bộ phim là một sản phẩm, hoặc mỗi diễn viên đóng vai James Bond cũng được xem là một sản phẩm. Những điều làm nên thương hiệu James Bond là tính cánh nhân vật và những dấu hiệu nhận diện thương hiệu. Các diễn viên từ Sean Conery, Roger Moore cho đến Pierce Brosnan đều chỉ là những vòng đời sản phẩm nối tiếp nhau tạo nên thương hiệu James Bond lừng danh và tiếp tục chinh phục công chúng toàn thế giới.


Kết luận:
Lý thuyết Tiếp thị thương hiệu vượt khỏi các hình thái sản phẩm.


Mười: Cạnh tranh Thương hiệu là sự đối đầu giữa các Thương hiệu?

Một trong những sai lầm về quản trị là nhận thức về cạnh tranh. Tiếp thị thương hiệu không xem cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp hay giữa các thương hiệu. Với tư duy xác lập thương hiệu vào tâm trí và tình cảm của khách hàng và người tiêu dùng, tiếp thị thương hiệu là một tập hợp những nỗ lực tạo ra lực đẩy và lực kéo giúp thương hiệu lao nhanh về phía trước, chinh phục số đông khách hàng và người tiêu dùng. Nỗ lực này lập đi lập lại không ngừng nghỉ, từ ngày này sang ngày khác, khắp nơi, giúp thương hiệu chinh phục khách hàng bằng ấn tượng đẹp dẫn đến hành vi mua hàng và xuất hiện đúng lúc khi khách hàng tiêu dùng và cung cấp những trải nghiệm tuyệt vời làm thỏa mãn nhu cầu. Thương hiệu chiếm lĩnh nhiều người tiêu dùng hơn sẽ chiến thắng và thương hiệu chậm chân hơn phải tạm thất bại. Điều khác biệt duy nhất của cuộc chạy đua này là không có một điểm dừng tuyệt đối.

Trong cạnh tranh thương hiệu không có sự phân biệt giữa lớn hay nhỏ, giữa mới hay củ. Điều quyết định là một chiến lược đúng cho thương hiệu. Tuy nhiên có những điều kiện tất yếu cho thương hiệu phát triển đó là môi trường cạnh tranh lành mạnh, khả năng tài chính tối thiểu và khả năng sáng tạo.

Kết luận: Cạnh tranh thương hiệu là cuộc đua song hành chứ không phải là sự đối đầu trực diện.

(Phương Trinh – vnBrand/ Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang)

Share Button

Để suy nghĩ sáng tạo hơn

Nếu bạn đang có cảm giác rằng cách làm việc của mình hiện chỉ theo lối mòn mà thiếu đi sự   sáng tạo, hãy rà soát lại thói quen thường nhật.

Việc sáng tạo đòi hỏi một môi trường và tâm trạng nhất định mà bạn có thể vô tình phá đi. Sau đây là những mách nước có thể giúp bạn cải thiện tư duy sáng tạo.

Sắp xếp thời gian sáng tạo theo đồng hồ sinh học.

Một nghiên cứu được công bố gần đây trên chuyên san Thinking and Reasoning (Mỹ) cho thấy khả năng chúng ta giải quyết các vấn đề mang tính sáng tạo thường cao hơn ở những lúc không phải là giờ cao điểm trong ngày. Lý do là vào thời điểm này, áp lực công việc giảm đi, những suy nghĩ ngẫu nhiên và sáng tạo xuất hiện trong tâm trí bạn.

Vì vậy, nếu công việc của bạn dồn vào buổi sáng, bạn có thể giải quyết những việc đòi hỏi sự sáng tạo vào cuối ngày, còn nếu bạn là người làm việc ban đêm, bạn nên nán lại trên giường hoặc trong nhà tắm một lúc vào buổi sáng để đầu óc thư thả và đón nhận ý tưởng mới.

Tránh xa tin tức kích thích thần kinh.

Bạn nên tránh xa các tin tức kiểu như tai nạn giao thông, án mạng hoặc hỏa hoạn nghiêm trọng vào buổi sáng. Một cuộc nghiên cứu được công bố trên chuyên san Psychological Science (Mỹ) cho thấy tin tức buồn có thể ăn mòn tư duy sáng tạo của bạn.

Theo cuộc nghiên cứu này, những người xem tin tức, hình ảnh có nội dung buồn có khả năng giải quyết vấn đề mang tính sáng tạo kém hơn người được xem tin tức, hình ảnh có nội dung vui vẻ, hài hước.

Vì vậy, thay vì xem những tin tức buồn vào buổi sáng trước khi bắt đầu làm việc, bạn có thể xem một đoạn phim video về một chú mèo xinh xắn, một đứa trẻ nhảy nhót hay một cặp sinh đôi “bô lô ba la” với nhau. Tiếng cười vang sẽ là cú hích quan trọng cho sự sáng tạo và cả tâm trạng của bạn.

Đi ra ngoài để mở mang suy nghĩ.

Để có được điều này, các nhà khoa học khuyên bạn cần bước ra khỏi không gian làm việc, đi tản bộ, chuyền một quả bóng hay một vật dụng gì đó từ tay này sang tay kia.

Các cuộc nghiên cứu ở Mỹ cho thấy người ở ngoài không gian rộng lớn đạt điểm số cao hơn người ngồi trong căn phòng chật chội khi cùng thực hiện một bài kiểm tra về khả năng sáng tạo.

Các chuyên gia cho rằng việc tư duy ở nơi không bị cản trở bởi vật chất có thể giúp giải tỏa những rào cản tinh thần ức chế sự sáng tạo.

21 Cách để suy nghĩ sáng tạo hơn

1 – Dừng ngay xem tivi.

Xem ti vi là một hình thức giết chết sự sáng tạo. Đừng nuối tiếc, đơn giản là tắt đi thôi.

2 – Dành 20 phút mỗi ngày để đi bộ

20 phút đi bộ cho thấy thế giới xung quanh đang thay đổi thế nào, hãy quan sát mọi thứ, lắng nghe và cảm nhận bằng tất cả giác quan mà bạn có.

3 – Viết với bút và giấy 

Bạn đang có máy tính, wacom, bàn phím… nhưng chẳng có gì có thể thay thế được bút và giấy. Hãy để tư tưởng của bạn theo ngòi bút, dù nó là bất cứ hình gì.

4 – Viết một bài hát

Nghe thật kỳ lạ, nhưng tại sao không nhỉ? Chủ đề có thể là con chó của bạn, bạn bè, hoặc bất cứ ai mà bạn đang nghĩ tới. Bạn sẽ thấy thư giãn vô cùng khi tiếp cận âm nhạc bằng cách tạo ra nó.

5- Nhảy quanh nhà

Bật một bản nhạc nhảy cũ rích, ABBA, Madona, Michael… hét thật to và nhảy nhót những một đứa trẻ, wow tôi bắt đầu thấy hứng khởi rồi đấy.

6- Đi trong mưa

Tôi là một người rất lười mặc áo mưa, thường thì gặp cơn mưa đột ngột thì thôi, cứ đội mưa mà về. Những cơn mưa có thể làm đầu óc bạn vô cùng sảng khoái.

7 – Tạo một tác phẩm cắt dán

Dùng giấy, bút, keo dán tạo ra bất thứ cái gì bạn thích. Kết quả dù thế nào, nhưng khi bạn làm việc bằng đôi tay của mình nó sẽ rất tuyệt.

8 – Tạo một danh sách những gì bạn thích

Tôi thích nghe Adele, Hồng Nhung. Tôi cũng thích ngồi một mình yên tĩnh, thích đi nhậu cùng bạn bè… Hồi xưa tôi còn thích khóc một mình. Hãy thử liệt kê xem thế nào?

9 – Viết 10 tấm bưu thiếp

Chọn một số bưu thiếp thật đẹp, và sau đó viết những lời chúc tới bạn bè và gia đình.

10 – Dậy sớm và nhìn mặt trời mọc

Bạn sẽ thấy cảm giác khác với việc 9h sáng mới đi làm đấy.

11 – Nghe những bài hát/ loại nhạc bạn chưa bao giờ nghe

Hãy thử một loại nhạc mà bạn chưa bao giờ nghe. Nhạc thính phòng, Opera, ca trù… Những ý tưởng mới có thể nảy sinh đó.

12 – Ăn bằng.. tay

Ăn bốc như những đứa trẻ và bạn sẽ thấy sự khác lạ của món ăn bạn vẫn ăn hàng ngày.

13 – Yên tĩnh

Một vài ngọn nến trong bóng tối, ngồi một mình.

14 – Chợp mắt một chút đi.

15 – Chụp hình và đừng có động vào PTS

16 – Uống rượu/trà ngắm trăng tròn

Bạn đã bao giờ làm việc đó chưa? Hãy chọn một ngày rằm trời quang và ngắm trăng như những ông già, chắc chắn bạn sẽ có cảm giác đặc biệt.

17 – Đọc lớn một bài thơ

Thơ ca là đẳng cấp cao của việc kết hợp từ ngữ. Hãy thử “sến” bằng cách đọc một bài thơ tình trước mặt bạn bè.

18 – Xem một buổi nhạc sống/ kịch nói, hoặc một buổi trình diễn trực tiếp

Bạn sẽ thấy khác xa so với việc nghe đĩa hoặc xem qua tivi.

19 – Đi xem bảo tàng

Nghệ thuật bậc cao nằm ở trong viện bảo tàng, hãy đi và xem những người đi trước đã làm gì.

20 – Viết thư

Lần gần đây bạn viết một bức thư tình/ thư thăm hỏi người thân, là lúc nào. Hãy thử viết một bức thư tay cho một người bạn của bạn, cầm nó đem ra bưu điện. Những gì bạn nhận được sẽ tuyệt vời lắm đấy.

21 – Dừng xem tivi ngay lập tức

Nhắc lại bạn một lần nữa, tivi chả đem lại cho bạn chút ích lợi để suy nghĩ sáng tạo đâu.

 

(Sưu tầm)

Share Button

Những lời khuyên cho việc “ra riêng” của David Airey

David Airey là một thiết kế tự do (freelancer hay self-employment) rất nổi tiếng, bạn có thể tham khảo những lời khuyên bổ ích của anh về việc “ra riêng”.

Tôi đã có khoảng 7 năm là một self-employed graphic designer, vì vậy tôi sẽ nói về 14 lời khuyên cho những bạn có ý định “ra riêng”.

1. Nhìn vào một bức tranh lớn

Tạo một kế hoạch kinh doanh hiện đại sẽ giúp bạn vượt qua khó khăn

  • Trung thực (điều cần có khi bạn làm bất kỳ hoạt động kinh doanh nào)
  • Cương quyết (Bạn luôn phải quyết định chọn cái này, bỏ cái kia, đừng quá ôm đồm)
  • Những lựa chọn phụ (Đừng đặt cược cả cuộc sống vào đó, nếu mọi việc thất bại bạn vẫn có thể đi làm phải không?)
  • Con người (Đây là yếu tố quan trọng nhất, bạn hoặc team của bạn cần phải là những người giỏi nhất)
  • Cuối cùng là TIỀN (Bạn cần bao nhiêu, bạn tiêu thế nào, chi phí trang trải cuộc sống, máy móc…)

2. Bàn bạc với bạn bè và gia đình về kế hoạch của mình

Một lúc nào đó, chính những người này (hoặc bạn bè của họ) sẽ đem lại công việc cho bạn. Hãy tạo dựng nhiều mối quan hện nhất có thể.

3. Bạn sẽ mất một vài khách hàng vì giá bạn quá cao.

Và cũng mất vài khách hàng nếu mức giá đưa ra quá thấp. Dù bạn thích hay không, khả năng của bạn sẽ phù hợp với giá tiền đưa ra, và đòi hỏi của khách hàng.

4. Đừng lo lắng quá về giá.

Mức giá của bạn sẽ đưa ra dựa trên:

  • Kinh nghiệm
  • Đặc điểm dự án
  • Thời gian hoàn thành
  • Các hỗ trợ
  • Mức độ yêu cầu
  • Tình hình kinh tế hiện tại
  • Đặc điểm địa lý vùng miền

Việc định giá này cần nhiều kinh nghiệm đau thương, nhưng rất cần thiết để bạn biết mình đang ở đâu.

5. Bạn sẽ mắc sai lầm

Tất cả đều gặp nó, quan trọng là chúng ta sẽ đứng dậy thế nào.

6. Khi gặp sai lầm, hãy thừa nhận trung thực.

Trong suốt quá trình làm việc, bạn sẽ nhận than phiền, hoặc có những xung đột. Hãy trung thực, lắng nghe cầu thị, kiên nhẫn là đức tính cần thiết của người thiết kế.

7. Học… nói

Cách nói của bạn rất quan trọng, nó giúp bạn mô tả những gì ngắn gọn, tuyệt vời về sản phẩm cho khách hàng. Nó giúp bạn khuyên nhủ khách hàng, và thông thường khách hàng sẽ trao đổi với bạn qua điện thoại, vì thế học Nói là một việc không thể thiếu.

8. Không ngừng học hỏi

Đọc sách, báo, tạp chí, lướt web, các trang thông tin công nghệ… Khi bạn “ở nhà một mình” bạn luôn cần nỗ lực tự học, tự cập nhật để theo kịp những gì đang thay đổi trên thế giới.

9. Viết Blog

Một lời khuyên quen thuộc trong bất cứ lời khuyên nào để trở thành một nhà thiết kế đồ họa giỏi. Viết blog đòi hỏi bạn phải học, đọc, đưa ra quan điểm về một/tất cả các lĩnh vực bạn quan tâm. Có một blog thú vị chứng tỏ chiều sâu trong tâm hồn của bạn.

10. Cân nhắc sự cộng tác

Bạn sẽ có nhiều dự án đòi hỏi nhiều kỹ năng, web, minh họa, coding, flash, branding, planning… Bạn sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội lớn nếu không có những sự cộng tác từ những người giỏi của mỗi lĩnh vực trên.

Một danh sách những người cộng tác có tiếng tăm, khiến bạn “có giá” trong mắt khách hàng.

11. Khuyến khích khách hàng nói về họ

Một chìa khóa quan trọng trong việc thiết kế là nắm rõ ý tưởng, mong muốn của khách hàng. Hãy lắng nghe và để khách hàng bày tỏ hết mong muốn của họ.

12. Nói Kiiiii đi nào

Hãy cười thân thiện, đừng tỏ ra “lạnh lùng” trước khách hàng, “chất” của designer không được chấp nhận trong việc xã giao :D.

13. Bạn sẽ làm việc với những người khó chịu nhất.

Bạn hãy chấp nhận sống chung với bão đi nhé, hãy coi nó là một việc bình thường thôi.

14. Làm thôi

Đến lúc rồi đấy. Ai đó sẽ khuyên bạn nên suy nghĩ cẩn thận, vâng. Dám làm, dám chịu, chỉ một người có thể ngăn được bạn đó là… bạn.

iDesign.vn dịch từ davidairey.com

Share Button

Đặt tên thuần Việt: nên và không nên

Đặt tên thuần Việt: nên và không nên

Đặt tên thương hiệu theo “Tây” hay thuần Việt là một chủ đề đang tốn nhiều giấy mực của báo chí. Đặt tên “Tây” đang được các doanh nghiệp Việt ưa chuộng đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản và thời trang cao cấp. Phải chăng tên thương hiệu “thuần Việt” có phần yếu thế trong cuộc đua này

Ở khía cạnh một doanh nghiệp, việc quyết định đặt tên thương hiệu theo “Tây” hay “Ta” không chỉ dựa trên lòng tự hào dân tộc mà phần nhiều dựa lợi điểm của việc đặt tên này trong việc nâng cao khả năng thành công của một thương hiệu.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực thời trang cao cấp, các doanh nghiệp Việt thường có xu hướng đặt tên theo “Tây” nhằm đáp ứng tâm lý “sính ngoại” của người tiêu dùng Việt. Các thương hiệu hàng đầu về lĩnh vực thời trang trên thế giới thường có xuất xứ từ Châu Âu và Mỹ và người tiêu dùng Việt có thể trả một mức giá rất cao để sở hữu các sản phẩm này. Vấn đề ở đây là khách hàng không chỉ mua một sản phẩm tốt mà họ mua một thương hiệu, mua một niềm tin về sản phẩm ưu việt của các thương hiệu hàng đầu thế giới.  Vì vậy, đặt tên “Tây” cho các sản phẩm thời trang cao cấp có thể được xem là một chiến lược phù hợp cho các doanh nghiệp Việt trong hoàn cảnh hiện tại.

Điều này không có nghĩa là đặt tên “thuần Việt” sẽ không hiệu quả bằng tên “Tây”. Trong một số trường hợp tên “thuần Việt” có những ưu điểm vượt trội. Dưới đây là một số phân tích về ưu và nhược của việc đặt tên “thuần Việt” dựa trên một số tiêu chí căn bản:

1. Tiêu chí ngành hàng:

Loại sản phẩm hay ngành hàng sẽ ảnh hưởng đến việc đặt tên của sản phẩm. Với các sản phẩm mà sản xuất tại Việt Nam chiếm ưu thế như: nông sản, thủy sản, thực phẩm, đặc sản, thủ công, mỹ nghệ… thì việc đặt tên thuần Việt sẽ tạo ưu thế so với tên “Tây”. Ví dụ điển hình trong trường hợp này như Thái Tuấn trong lĩnh vực dệt hay Trung Nguyên trong lĩnh vực cà phê. Lĩnh vực dệt và cà phê thì Việt Nam có một số ưu điểm vì trực tiếp tạo ra nguồn nguyên liệu nên đảm bảo được chất lượng, vì vậy đặc tên thuần Việt sẽ được hưởng phần nào uy tín thương hiệu của ngành sản xuất và tạo được lợi thế cạnh tranh cho chính doanh nghiệp.

Trong một số ngành hàng khác, việc đặc tên thuần “Việt” có thể sẽ gặp phải khó khăn cho sự chấp nhận sản phẩm của các khách hàng. Một số sản phẩm thuộc loại này có thể kể đến sản phẩm công nghệ cao như xe, máy tính, điện tử… hay những sản phẩm mà các nước phương Tây đi đầu như thời trang, hóa mỹ phẩm, kiến trúc, xây dựng… Điều này lý giải tại sao các doanh nghiệp Việt có xu hướng đặt tên “Tây” cho thương hiệu của các loại sản phẩm này.

2. Nguồn gốc xuất xứ

Xuất xứ là một tiêu chí khác có thể ảnh hưởng đến việc đặt tên thương hiệu. Ở Việt Nam có rất nhiều loại sản phẩm luôn gắn liền với vùng miền nổi tiếng như nước mắm Phú Quốc, Trà Thái Nguyên, Cà phê Buôn Mê Thuột… Với các sản phẩm gắn với vùng miền nổi tiếng này thì việc đặc tên thuần Việt sẽ chiếm ưu thế. Tên thuần Việt sẽ được hưởng lợi không chỉ trong nước mà còn trên thị trường nước ngoài nữa vì người mua sản phẩm vì vùng miền nổi tiếng vì vậy tên thương hiệu bản xứ sẽ tạo cảm giác xuất xứ, tính truyền thống và khác biệt của sản phẩm.

Vì vậy khi doanh nghiệp kinh doanh một sản phẩm gắn liền với một vùng miền nổi tiếng thì nên đặt tên thương hiệu “thuần Việt” để tạo điểm khác biệt cũng như chuyển tải được một phần bản sắc văn hóa của vùng miền đó.

3. Đặc tính sản phẩm

Đặc tính sản phẩm hay cách chế biến sản phẩm cũng là một yếu tố khác ảnh hưởng tới việc đặc tên thương hiệu. Với các sản phẩm có hàm lượng “giá trị văn hóa và truyền thống” cao như thủ công mỹ nghệ, đặc sản, ẩm thực… thì nên đặt tên thuần Việt. Một ví dụ điển hình là phở 24 được đặt tên thuần Việt cho dù kinh doanh tại nước nào trên thế giới. Với các sản phẩm đặc thù này, người ta mua sản phẩm không chỉ là chất lượng mà còn vì mong muốn được hiểu biết và hòa nhập với văn hóa một vùng miền nào đó. Vì vậy, tên thuần Việt sẽ chiếm ưu thế trong trường hợp này.

DNA Branding – www.dna.com.vn

Share Button

Phân biệt các loại tem decal chống giả

Các sản phẩm tiêu dùng ngày nay có nhiều mặt hàng và chủng loại đa dạng, thật giả lẫn lộn với nhau. Để tránh tình trạng này xuất hiện, các nhà sản xuất đã khắc phục bằng cách dán tem decal chống giả lên những sản phẩm của họ…

Trên thị trường tem nhãn decal, có nhiều loại, trong đó có lại tem decal chống giả, bao gồm các loại sau:

1. Tem Hologram thường:

*Đặc điểm:

– Phương pháp in: Lụa, Offset, Flexo, Laser

– Vật liệu in: decal Hologram, mực in thường

– Rất dễ in nhái

* Sản phẩm thường gặp: tem trên các nón bảo hiểm

2. Tem Decal vỡ

* Đặc điểm

– Phương pháp in: Lụa, Offset, Flexo

– Vật liệu in: decal vỡ, mực in thường

– Rất dễ in nhái

* Sản phẩm thường gặp: tem trên các linh kiện điện tử, vi tính

3. Tem Decal vỡ BỘ CÔNG AN

* Đặc điểm

– Phương pháp in: Offset, Flexo

– Vật liệu in: decal vỡ, mực in đặc biệt (Phát sáng dưới đèn UV)

– Khó làm giả (Hoa văn tinh sảo, mực đặc biệt)

– Được bảo vệ về mặt pháp luật khi có các vấn đề liên quan đến hàng nhái và hàng giả (Công An Kinh Tế, Quản Lý Thị Trường…)

– Để in tem chống giả Bô Công An cần có đầy đủ các giấy tờ như: Giấy phép kinh doanh, giấy ủy quyền phân phối sản phẩm (Sp Nhập Khẩu), Phiếu công bố tiêu chuẩn sản phẩm (Hàng mỹ phẩm), giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa)

* Sản phẩm thường gặp: máy tính Casio

4. Tem Hologram 3DF BỘ CÔNG AN

* Đặc điểm

– Phương pháp in: Công nghệ mới ( Chưa có trên thị trường)

– Vật liệu in: Hologram 3D (màng đổi màu)- Công Nghệ Châu Âu

– Không có khả năng làm giả (Lần đầu tiên ở VN)

– Được bảo vệ về mặt pháp luật khi có các vấn đề liên quan đến hàng nhái và hàng giả (Công An Kinh Tế, Quản Lý Thị Trường…)

– Để in tem chống giả Bô Công An cần có đầy đủ các giấy tờ như: Giấy phép kinh doanh, giấy ủy quyền phân phối sản phẩm (Sp Nhập Khẩu), Phiếu công bố tiêu chuẩn sản phẩm (Hàng mỹ phẩm), giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa)

* Sản phẩm thường gặp: máy tính Casio

Theo kythuatin.com

Share Button

Kích thước các loại giấy in

Trong in ấn , chúng ta cần phải nắm được 3 điều sau đây:

a/ Kích thước file in

c/ Khổ máy in

b/ Khổ giấy in (hay còn gọi là chất liệu chọn in)

A/ In offset

Các khổ giấy thông thường

60 x 84

65 x 84

65 x 86

79 x 109 ( 54 x 79 cắt đôi)

Lưu ý: đây chỉ là các kích thước giấy, khi làm thì tuỳ kích thước file, tuỳ kích thước máy in mà bình trên khổ giấy nào.

In decal cũng thế:

 

B/ In Kỹ Thuật Số(dành cho quảng cáo ngoài trời)

– Chất liệu in: Hiflex, decan, PP, còn có thêm chất liệu là vải bố

– Máy in kỹ thuật số (KTS) lớn nhất bây giờ là khổ 3m2

– In KTS thì không cần bình phim, biết kích thước file in, sau đó xuất file sang đuôi TIF.

– Khi đưa file xuống, thợ in sẽ chọn khổ in phù hợp.

– Còn KT hiflex, hiện nay kích thước lớn nhất là 3,2m. 1 cây hiflex thường dài 70 đến 80m, các kích thước nhỏ hơn là từ cây lớn cắt ra.

– Mỗi nhà in thường đặt chỗ mua những kích thước mà mình hay sử dụng.

– VD: 1m1, 2m5… cũng từ cây lớn cắt ra, khi in cũng là in ghép các file lại để lợi hiflex, tương tự thì decal và PP cũng vậy ( decal và PP thì không có khổ lớn 3m2, chỉ có khổ nhỏ hơn là khoảng 2m4, chiều dài khoảng 60m).

Bình phim khi in KTS trên chất liệu decal, PP, hiflex thì lưu ý các điểm sau:

Xuất file làm 2 lần

a/ Lần 1, xuất file với độ phân giải (resolution) là 1dpi ( lý do: để chương trình định đúng kích thước của file).

b/ Lần 2, xuất lại file lưu chồng với độ phân giải (resolution) khoảng 72 – 150dpi miễn sao file xuất ra không quá 200MB

Lý do xuất không quá 200MB: khi mang tới nhà in họ cũng giảm xuống vì nếu file quá nặng, máy sẽ đọc không được, dẫn tới có thể hư file khi đang in giữa chừng.

Đối với các file làm từ chương trình AI hoặc corel thì xuất độ phân giải (resolution) là 72dpi – 100dpi là in đẹp vì file là vector nên chất lượng tốt, không sợ bể. Còn file là hình ảnh thì nên linh động tuỳ theo kích thước và chất lượng của hình ảnh sử dụng mà định độ phân giải.

(Có một số file rất lớn độ phân giải sẽ chắc chắn file lớn hơn 200MB, lúc đó bạn cứ chọn độ phân giải nào để file có số MB thấp nhất có thể, VD in kích thước 3m x 5m có thể định độ phân giải khoảng 30 – 50dpi lúc đó new file size cũng là trên 200MB rồi).

Còn in trên mica, thường sẽ in decal đục hoặc decal trong để dán lên mica hoặc kiếng, nhanh, rẻ, đẹp và tiết kiệm chi phí rất nhiều.

Ngoài ra nếu toàn bộ nội dung là chữ (VD như bảng nội quy) thì có thể cắt decal dán trên nền mica, hoặc có thể phun cát.

Ngoài phun cát hiện nay trên thị trường còn có khắc CNC trên mic, gỗ…

Lưu ý: in trên PP chất lượng file sau khi in rất tốt, nhưng đây là loại rất dễ bay màu khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, vì vậy nó chỉ thích hợp sử dụng cho loại hình quảng cáo nhanh trong vòng ít ngày, hoặc quảng cáo trong nhà, VD như các in poster quảng cáo treo trong các rạp chiếu phim chẳng hạn…

Share Button

Tìm hiểu về giấy can: phân loại, tính năng, ứng dụng

Giấy can (gốc từ tiếng Pháp: Papier Calque) là giấy có khả năng thấu quang cao, nghĩa là có thể cho ánh sáng đi qua. Giấy thu được sau một quá trình lọc đặc biệt kỹ càng bột giấy trong quá trình simili sunphua hóa. Bột giấy để sản xuất giấy can thường là bột ngâm bi-sun-phat; các sợi giấy được cán nát, thủy phân lâu trong nước.

Quy trình sản xuất giấy này tương tự như giấy giả da gốc thực vật (giấy sunphua hóa, giấy giả da) là loại giấy được tạo ra bằng cách ngâm trong vài giây một tờ giấy chất lượng tốt, không hồ cũng không phủ, trong một bể axit sunphuaric để thủy phân xenlulo từng phần sang amyloit, gelatin và không thấm nước hoặc mỡ. Giấy can bao gồm cả giấy can trong tự nhiên và giấy can màu.

Lý do giấy can trong:

Sợi cellulose nguyên thủy là trong suốt. Màu đục của giấy là do không khí lẫn giữa các sợi giấy khúc xạ ánh sáng tạo nên. Khi bột giấy được lọc, nghiền kỹ thì phần bọt khí sẽ được tách ra, và giấy sẽ trong.

Ứng dụng

– Ứng dụng nhiều nhất của giấy can hiện nay là tạo ra bản phim (Offset Printing plates) trong quy trình in offset, cho những bản in không cần độ chính xác và độ nét cao, do ưu điểm giá thành rẻ hơn bản phim. Giấy can cũng được dùng để can (căn ke, vẽ lại) các bản vẽ, đặc biệt là trong xây dựng, kiến trúc, thiết kế cấp-thoát nước. Ngoài ra, giấy can còn được dùng làm phong bì cưới, thiếp, giấy mời, tờ lót trong sách, vỏ hộp đĩa CD, danh thiếp, làm giấy gói hàng, bao bì…

– Ứng dụng của giấy can được quyết định bởi quá trình gia keo bề mặt (Sizing). Giấy can chuyên cho in laser có mức độ gia keo riêng biệt so với giấy can thông thường, là loại được dùng cho nhiều quy trình in ấn: in offset, in laser và in phun màu. Nói chung, giấy can chuyên cho in laser thì không thích hợp với in phun.

– Giấy can cũng được dùng làm nguyên liệu trong in ấn vì tính chất trong mờ của giấy can có tác dụng kích thích người xem tưởng tượng.

Phân loại HS:

– Trong Hệ thống phân loại hàng hóa quốc tế HS, giấy can được phân loại vào nhóm 4806.30

– Chỉ số kỹ thuật:

– Nói chung, giấy can có tỷ trọng lớn hơn nước. Đa phần các loại giấy viết, giấy in (copy, laser, offset…) có tỷ trọng nhẹ hơn nước, trừ một số loại như giấy can, giấy in phun mặt bóng, chịu nước, giấy cuse (giấy phấn, giấy láng), giấy tổng hợp (giấy Yupo, giấy Tyvek, giấy polymer…) là chìm trong nước.

Lưu ý khi in:

*In Offset:

– Kiểm tra độ ẩm môi trường in.

– Sử dụng mực in khô nhanh hoặc mực phủ UV.

– Không sử dụng khí nóng hoặc tia hồng ngoại

*In phun:

– Giấy can cho kết quả in đường nét tốt. Nên in bản thử trước.

*In laser:

– Tham khảo chú thích của máy in.

Theo kythuatin.com

Share Button

Page 5 of 12 «...34567...»